Chương 1: Tổng quan về RRTD, Kiểm soát RRTD của NHTM. - Chương 2: Thực trạng Kiểm soát RRTD tại NH TMCP Công Thương Việt Nam giai đoạn 2015 - 2019. - Chương 3: Giải pháp nâng cao Kiểm soát RRTD tại NH TMCP Công Thương Việt Nam. 7 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Rủi ro tín dụng của Ngân hàng Thƣơng mại 1. Khái niệm RRTD Có rất nhiều khái niệm rủi ro tín dụng được các nhà khoa học nghiên cứu, các tổ chức đưa ra như sau: Theo thông tư 41/2016/TT-NHNN do Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam ban hành: “Rủi ro tín dụng là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, trừ các trường hợp quy định tại Rủi ro tín dụng đối tác”. Theo thông tư 02/2013/TT-NHNN do Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam ban hành: “Rủi ro tín dụng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Theo PGS-TS Nguyễn Văn Tiến (2010): “RRTD phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu đủ được đầy đủ gốc là lãi khoản vay, hoặc việc thanh toán nợ gốc lãi không đúng kỳ hạn.
Nếu tất cả các khoản đầu tư của ngân hàng được thanh toán đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn thì ngân hàng không chịu bất cứ RRTD nào. Trong trường hợp người vay tiền phá sản thì việc thu hồi gốc lãi tín dụng đầy đủ là không chắc chắn, do đó, ngân hàng có thể gặp RRTD”. Như vậy, đứng trên nhiều góc độ khác nhau để nhìn nhận thì RRTD có thể được diễn đạt dưới các hình thức khác nhau. Phân loại RRTD Tuỳ thuộc vào giác độ, mục tiêu nghiên cứu, phân tích mà việc phân loại RRTD có nhiều cách khác nhau.
Đối với hệ thống NHTM thì việc phân loại RRTD có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thiết lập chính sách, quy trình, mô hình quản trị và điều hành nhằm đảm bảo an toàn hoạt động kinh doanh và nhận biết sớm các dấu hiệu tiềm 8 ẩn rủi ro, xác định nguyên nhân, tác động và hệ quả để có biện pháp ứng xử phù hợp và kịp thời, sau đây là một số cách phân loại phổ biến: 1. Căn cứ vào nguy n nhân phát sinh rủi ro: Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh RRTD được chia thành các loại sau: Rủi ro giao dịch và Rủi ro danh mục (Trần Huy Hoàng, 2010). o Rủi ro giao dịch: là rủi ro phát sinh do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm: Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay; Rủi ro bảo đảm: là rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay các loại tài sản bảo đảm, chủ thể bảo đảm, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị tài sản đảm bảo; Rủi ro nghiệp vụ: liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và xử lý các khoản cho vay có vấn đề.
o Rủi ro danh mục: là rủi ro phát sinh do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng được phân chia thành 2 loại là rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. Rủi ro nội tại: là rủi ro xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm mang tính riêng biệt bên trong quá trình hoạt động hoặc sử dụng vốn của các chủ thể đi vay tùy theo ngành hoặc lĩnh vực kinh tế; Rủi ro tập trung: Là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. Căn cứ vào mức ộ tổn thất: Căn cứ vào mức độ tổn thất, có thể chia RRTD ra làm 2 loại: Rủi ro mất vốn: Là rủi ro khi người vay không có khả năng trả được nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn gốc hoặc lãi vay, ngân hàng chỉ trông chờ vào giá trị thanh lý tài sản của doanh nghiệp. Rủi ro mất vốn sẽ làm tăng chi phí do nợ khó đòi tăng, chi 9 phí quản trị, chi phí giám sát; giảm lợi nhuận do các khoản dự phòng gia tăng cho những khoản vốn mất đi.
Rủi ro đọng vốn: Là rủi ro xảy ra trong trường hợp đến hạn mà ngân hàng vẫn chưa thu hồi vốn vay, dẫn đến các khoản vốn bị đông cứng và ảnh hưởng đến ngân hàng trên hai phương diện: (i) Ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng; (ii) gặp khó khăn cho việc thanh toán cho khách hàng. Căn cứ phạm vi RRTD: Căn cứ phạm vi của RRTD, có thể phân chia RRTD thành: RRTD cá biệt: Là RRTD xảy ra đối với một khoản vay của một khách hàng cụ thể, thuộc một nhóm ngành cụ thể. RRTD cá biệt xảy ra do một số nguyên nhân: (i) Đặc điểm ngành và loại hình kinh tế của khách hàng; (ii) Tình hình tài chính của khách hàng; (iii) Khả năng quản trị của khách hàng; (iv) Đạo đức khách hàng; (v) Các nguyên nhân khác. RRTD hệ thống: Là RRTD xảy ra không chỉ đối với một ngân hàng mà mang tính chất hệ thống, lan truyền đến cả khu vực ngân hàng.
Nguyên nhân của rủi ro hệ thống bao gồm: Sự thay đổi chính sách thể hiện ở chính sách tài chính tiền tệ, chính sách thuế, chính sách xuất nhập khẩu. Các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế ảnh hưởng đến rủi ro hệ thống bao gồm: Tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, GDP, chỉ số chứng khoán, chỉ số giá tiêu dùng; luật pháp và môi trường đầu tư và các yếu tố bất khả kháng. Để hạn chế rủi ro này, thay vì đa dạng hóa hoạt động tín dụng, ngân hàng cần phải thực hiện tốt công tác dự báo tình hình kinh tế vĩ mô, các tác động của lạm phát, thất nghiệp, các chính sách sắp đến của Chính phủ và chủ động đưa ra các giải pháp quản trị rủi ro phù hợp… 1. Dựa vào cách phân loại nợ tín dụng: Dựa vào cách phân loại nợ tín dụng thì nợ được phân thành 5 nhóm: Nhóm 1: Nợ tiêu chuẩn, bao gồm nợ trong hạn được đánh giá có khả năng thu hồi đủ gốc và lãi đúng hạn và các khoản nợ có thể phát sinh trong tương lai như các khoản bảo lãnh, cam kết cho vay, chấp nhận thanh toán.
Nhóm 2: Nợ cần chú ý, bao gồm nợ quá hạn dưới 90 ngày và nợ cơ cấu lại theo thời hạn trả nợ. Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn, bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày và các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày. 1 Nhóm 4: Nợ nghi ngờ, bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày và các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày. Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn, bao gồm các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày, các khoản nợ khoanh chờ chính phủ xử lý, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày.
Theo cách phân loại nợ trên thì RRTD được chia thành 3 loại: Nợ dưới tiêu chuẩn hay là nợ nhóm 3. Đây là các khoản nợ mà ngân hàng đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi đúng hạn và có khả năng tổn thất một phần vốn. Nợ nghi ngờ hay là nợ nhóm 4. Đây là loại nợ mà ngân hàng đánh giá khả năng tổn thất cao.
Nợ có khả năng mất vốn hay là nợ nhóm 5. Đây là loại nợ mà ngân hàng đánh giá là có khả năng mất vốn. Các chỉ ti u ánh giá, o lƣờng RRTD tại NHTM: Nợ quá hạn: Là chỉ tiêu cơ bản phản ánh RRTD. Nợ quá hạn là hệ quả của mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo, vi phạm đặc tính cơ bản của tín dụng là thời hạn hoàn trả và giá trị hoàn trả chưa đầy đủ, dẫn đến đổ vỡ lòng tin của Người cho vay (Ngân hàng) đối với Người vay.
Nợ quá hạn sẽ phát sinh khi đến thời hạn trả nợ theo cam kết, Người vay không có khả năng trả được nợ một phần hay toàn bộ khoản vay cho người cho vay. Như vậy, Nợ quá hạn là các khoản nợ mà khách hàng không thực hiện đúng các nghĩa vụ trả nợ (toàn bộ hoặc một phần) về thời gian hoàn trả và không được cơ cấu lại các khoản nợ. Tại thời điểm chuyển nợ, toàn bộ số dư nợ gốc sẽ bị chuyển sang quá hạn. Tùy theo thời gian quá hạn, khoản nợ này sẽ được xác định nợ cần chú ý, nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, hoặc là nợ có khả năng mất vốn.
Nợ quá hạn được phản ánh qua 2 chỉ tiêu sau: Số dư nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn = × 100% Tổng dư nợ 1 Tỷ lệ nợ quá hạn cao chứng tỏ chất lượng tín dụng thấp; ngược lại, tỷ lệ nợ quá hạn thấp chứng tỏ chất lượng tín dụng cao. Số khách hàng có nợ quá hạn Tỷ lệ khách hàng có nợ = quá hạn trên tổng khách × 100% Tổng số khách hàng hàng có dư nợ có nợ quá hạn Chỉ tiêu này cho biết, cứ 100 khách hàng vay vốn, thì có bao nhiêu khách hàng đã quá hạn. Nếu tỷ lệ này cao, phản ánh chính sách tín dụng của ngân hàng là không hiệu quả. Ngoài ra, nếu chỉ tiêu này thấp hơn chỉ tiêu “Tỷ lệ Nợ quá hạn”, cho biết nợ quá hạn tập trung vào những khách hàng lớn; ngược lại, nếu chỉ tiêu này cao hơn chỉ tiêu “Tỷ lệ Nợ quá hạn”, cho biết nợ quá hạn tập trung vào những khách hàng nhỏ.
Nếu ngân hàng có chỉ tiêu Tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ khách hàng có nợ quá hạn trên tổng khách hàng có dư nợ lớn thì ngân hàng đó đang có mức rủi ro cao và ngược lại.