CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại.1 Khái niệm về kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại Theo Ủy ban Basel: Kiểm soát nội bộ được định nghĩa là quá trình được thực hiện bởi Hội đồng quản trị, ban điều hành và toàn thể nhân viên. Đó không chỉ là một thủ tục hoặc một chính sách được thực hiện tại một thời điểm nhất định mà tiếp diễn ở tất cả các cấp trong ngân hàng. Hội đồng quản trị và Ban điều hành chịu trách nhiệm thiết lập môi trường văn hóa tạo thuận lợi cho quá trình kiểm soát nội bộ được hiệu quả và việc theo dõi sự hiệu quả được diễn ra liên tục, tuy nhiên mỗi cá nhân trong tổ chức phải tham gia vào quá trình đó. Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400: “ Hệ thống kiểm soát nội bộ là các qui định và các thủ tục kiểm soát do đơn vị được kiểm toán xây dựng và áp dụng nhằm bảo đảm cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các qui định, để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót; để lập báo cáo tài chính trung thực và hợp lý; nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị.
Hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tục Từ các khái niệm trên có thể hiểu kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại là các chính sách, quy trình, thông lệ và cơ cấu tổ chức được thiết lập nhằm có được sự đảm bảo ở mức độ hợp lý rằng ngân hàng sẽ đạt được các mục tiêu kinh doanh và phòng ngừa, phát hiện hoặc khắc phục các rủi ro xảy ra ngoài mong muốn.2 Sự cần thiết kiểm soát nội bộ trong ngân hàng thương mại Kiểm soát nội bộ là công cụ quan trọng của nhà quản lý trong việc kiểm tra giám sát và phòng ngừa rủi ro nhằm giúp cho hoạt động của doanh nghiệp an toàn và hiệu quả, vì vậy mục tiêu của KSNB bao gồm các nội dung sau - Về hoạt động: Bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của ngân hàng. KSNB hoạt động tín dụng giúp các nhà quản lý giảm thiểu rủi ro hay tận dụng trong hoạt động của tổ chức thông qua việc kiểm tra, kiểm soát và sử dụng hiệu quả các 9 nguồn lực. Khi ngân hàng có được một hệ hống kiểm soát hoạt động tín dụng phù hợp và hiệu quả là một trong những biện pháp hiệu quả phòng ngừa rủi ro vô tình hay cố ý. - Về thông tin: giúp đảm bảo thông tin một cách tin cậy đối với người sử dụng.
Các báo cáo báo cáo tài chính và quản trị về tín dụng cần bảo đảm độ có tin cậy, chính xác cao bởi các thông tin này là cơ sở để nhà quản lý đưa ra quyết định, chính sách, ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng tín dụng, tới quyền lợi khách hàng. - Về tuân thủ: Giúp đảm bảo các bộ phận trong tổ chức tuân thủ các quy định nội bộ đồng thời chấp hành đúng và đẩy đủ các quy định của luật pháp. Việc hướng mọi thành viên vào việc không chỉ tuân thủ các quy định nội bộ mà bao gồm tất cả quy định của các cơ quan có thẩm quyền khác có liên quan tới hoạt động tín dụng như Ngân hàng nhà nước, Chính phủ… đảm bảo tổ chức vận hành theo quy trình quy định từ đó mang lại sự hiệu quả và an toàn trong hoạt đông, hạn chế rủi ro có thể xảy ra.3 Chức năng của kiểm soát nội bộ trong hoạt động của ngân hàng NHTM là loại hình doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ chuyên đi vay để cho vay. Theo thông tư 13/2018/TT-NHNN và các quy định của pháp luật có liên quan KSNB của NHTM được tổ chức thực hiện nhằm kiểm soát, phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra.
KSNB thực hiện giám sát của quản lý cấp cao, kiểm soát nội bộ, quản lý rủi ro, đánh giá nội bộ về mức đủ vốn và kiểm toán nội bộ của NHTM. Như vậy, KSNB có vai trò rất quan trọng trong tất cả mọi hoạt động cũng như quá trình hình thành và phát triển của một NHTM.2 Kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại 1.1 Khái quát về tín dụng ngân hàng 1.1 Đặc điểm của tín dụng ngân hàng Theo Luật các tổ chức tín dụng 2010: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền 1 theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Như vậy tín dụng ngân hàng phản ánh mối quan hệ giữa ngân hàng với các chủ thể khác trong nền kinh tế (trong đó ngân hàng đóng vai trò trung gian đi huy động vốn của các chủ thể có vốn nhàn rỗi để cho chủ thể tạm thời thiếu vốn vay) trong một khoảng thời gian nhất định trên cơ sở có sự hoàn trả cả gốc và lãi cho bên cho vay. Tín dụng ngân hàng có đặc trưng sau: - Lòng tin: Tín dụng với cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn cả gốc và lãi do đó trong quan hệ tín dụng thì lòng tin phải xuất phát từ cả hai phía là người đi vay và người cho vay.
- Tính hoàn trả là đặc trưng cơ bản nhất của tín dụng, sự hoàn trả từ phía người vay là vô điều kiện, là điều kiện tiên quyết trong đó giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị ban đầu bao gồm cả gốc và lãi đúng thời hạn. - Tính thời hạn: khi đến thời hạn thanh toán khoản vay theo cam kết trong hợp đồng tín dụng, người đi vay phải hoàn trả toàn bộ giá trị gốc cộng với lãi kèm theo thỏa thuận với người cho vay đã ký kết. - Tín dụng ẩn chứa nhiều khả năng rủi ro: Người đi vay có thể vì yếu tố chủ quan và khách quan có thể dẫn tới không thể thanh toán một phần hoặc toàn bộ gốc và lãi như cam kế do đó rủi ro trong quan hệ tín dụng cao và có tính tất yếu.2 Rủi ro tín dụng và ảnh hưởng của rủi ro tín dụng. Rủi ro là không thể tránh khỏi trong mọi hoạt động của nền kinh tế nói chung và trong hoạt động của các ngân hàng nói riêng.
Để nhận biết và dự đoán trước các rủi ro có thể xảy ra, các nhà quản trị cần có những giải pháp phòng ngừa và ngăn chặn từ sớm. Theo thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21 tháng 01 năm 2013 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam thì: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do 1 khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Như vậy rủi ro tín dụng là tổn thất mà ngân hàng không thu đủ hoặc không thu được nợ gốc và lãi của khách hàng. Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro: Rủi ro tín dụng được chia thành hai loại là: rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục.
- Rủi ro giao dịch: nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và thẩm định khách hàng. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. + Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và thẩm định tín dụng những phương án vay vốn và từ đó đưa ra quyết định cấp tín dụng những phương án vay vốn cho là có hiệu quả. + Rủi ro bảo đảm: là rủi ro liên quan tới các loại tài sản đảm bảo, chủ thể bảo đảm, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo.
+ Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến hoạt động cho vay và quản lý khoản vay bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng và thẩm định khoản cho vay. - Rủi ro danh mục: là một hình thức của rủi ro tín dụng với nguyên nhân bởi những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng. Rủi ro danh mục được phân chia thành hai loại: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. + Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế.
Rủi ro nội tại xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. + Rủi ro tập trung: xảy ra khi ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, một ngành, lĩnh vực kinh tế hoặc trong cùng một phạm vi địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. Căn cứ vào tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân gây ra rủi ro thì rủi ro tín dụng được phân ra thành rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan: 1 - Rủi ro khách quan: là rủi ro do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, chiến tranh bạo động, dịch bệnh, người vay chết, mất tích và các biến động ngoài dự kiến khác làm ngân hàng không thu hồi được vốn vay trong khi người vay thực hiện nghiêm túc các cam kết khi vay vốn với ngân hàng. - Rủi ro chủ quan xảy ra là do sự chủ quan của người cho vay, người đi vay do vô tình hay cố ý cùng những nguyên nhân chủ quan làm thất thoát vốn vay.
Như vậy, tín dụng ngân hàng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro gây tổn hại cho ngân hàng. Các rủi ro này có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân từ thiên tai, dịch bệnh, cơ chế chính sách, sự biến động kinh tế chính trị hay do sự yếu kém của khách hàng về năng lực quản lý, khả năng tài chính. và cũng xuất phát từ sự yếu kém của ngân hàng trong việc thẩm định khách hàng và công tác theo dõi, kiểm soát khoản vay. Những rủi ro này có thể kiểm soát và hạn chế được tối thiểu bằng một cơ chế quản lý rủi ro thích hợp trong đó chất lượng của hoạt động kiểm soát nội bộ đóng vai trò quan trọng.2 Kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng 1.