CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Đặc điểm hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Trước khi đi tìm hiều về kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng, cần hiểu rõ bản chất về hoạt động tín dụng thông qua đặc điểm của nó.TS Nguyễn Văn Tiến [9, tr.262] thì tín dụng ngân hàng có 5 đặc điểm sau: Thứ nhất, tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở lòng tin. Ngân hàng chỉ cấp tín dụng khi có lòng tin vào việc khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích, hiệu quả và có khả năng hoàn trả nợ vay (gốc, lãi) đúng hạn; còn người đi vay thì tin tưởng vào khả năng kiếm được tiền trong tương lai để trả nợ gốc và lãi vay.
Thứ hai, tín dụng ngân hàng là sự chuyển nhượng một tài sản có thời hạn hay có tính hoàn trả. Ngân hàng là trung gian tài chính “đi vay để cho vay”, nên mọi khoản tín dụng của ngân hàng đều phải có thời hạn, bảo đảm cho ngân hàng hoàn trả vốn huy động. Để xác định thời hạn cho vay hợp lý, ngân hàng phải căn cứ vào tính chất thời hạn nguồn vốn của mình và quá trình luân chuyển vốn của đối tượng vay. Nếu ngân hàng có nguồn vốn dài hạn ổn định, thì có thể cấp được nhiều tín dụng dài hạn; ngược lại, nếu nguồn vốn không ổn định và kỳ hạn ngắn, mà cấp nhiều tín dụng dài hạn thì sẽ gặp rủi ro thanh khoản.
Mặt khác thời hạn vay phải phù hợp với chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay thì người vay mới có điều kiện trả nợ đúng hạn. Nếu ngân hàng xác định thời hạn vay nhỏ hơn chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay, thì khách hàng không đủ nguồn để trả nợ khi đến hạn, gây khó khăn cho khách hàng. Ngược lại, nếu thời hạn cho vay lớn hơn chu kỳ Luan van 9 luận chuyển vốn sẽ tạo điều kiện cho khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích, tiềm ẩn rủi ro tín dụng cho ngân hàng. Thứ ba, tín dụng ngân hàng phải dựa trên nguyên tắc không chỉ hoàn trả gốc mà phải trả cả lãi.
Nếu không có sự hoàn trả thì không được coi là tín dụng. Giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị lúc cho vay (giá trị gốc), nghĩa là ngoài việc hoàn trả giá trị gốc, khách hàng phải trả cho ngân hàng một khoản lãi, đây chính là giá của quyền sử dụng vốn vay. Khoản lãi phải luôn là một số dương, có như vậy mới bù đắp được chi phí hoạt động và tạo ra lợi nhuận, phản ánh bản chất hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Thứ tư, tín dụng ngân hàng là hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao cho ngân hàng.
Việc đánh giá độ an toàn của hồ sơ vay vốn là rất khó. Vì luôn tồn tại thông tin bất đối xứng dẫn đến lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. Ngoài ra việc thu hồi tín dụng phụ thuộc vào môi trường hoạt động, ngoài tầm kiểm soát của khách hàng như sự biến động về giá cả, lãi suất, tỷ giá, lạm phát, thiên tai… Khi khách hàng gặp khó khăn do môi trường kinh doanh thay đổi, dẫn đến khó khăn trong việc trả nợ, điều này khiến cho ngân hàng gặp rủi ro tín dụng. Thứ năm, tín dụng ngân hàng phải dựa trên nguyên tắc hoàn trả vô điều kiện.
Qua trình xin vay và cho vay diễn ra trên cơ sở những căn cứ pháp lý chặt chẽ như: Hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, cầm cố cho bên thứ 3 vay vốn, hợp đồng bảo lãnh, khế ước nhận nợ…, trong đó bên đi vay phải cam kết hoàn trả vô điều kiện khoản vay cho ngân hàng khi đến hạn. Từ các đặc điểm trên cho thấy, tín dụng ngân hàng phải đảm bảo hai nguyên tắc cơ bản sau: Thứ nhất, vốn vay phải sử dụng đúng mục đích. Thứ hai, vốn vay phải được hoàn trả cả gốc và lãi đúng thời hạn đã cam kết trong hợp đồng. Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại Kiểm soát nội bộ hoat động tín dụng hiệu quả khi nó có thể đưa ra các dự đoán về rủi ro tín dụng có thể xảy ra trong tương lai và có biện pháp phòng ngừa hữu hiệu.
Hay nói một cách khác là kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng phải gắn liền với quản lý rủi ro tín dụng.TS Nguyễn Đăng Dờn [1, tr.173], rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động Ngân hàng, do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. - Rủi ro tín dụng phát sinh trong suốt quá trình cấp tín dụng của ngân hàng đối với khách hàng. - Khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng do khách hàng không trả được nợ, hoặc trả nợ không đầy đủ, không đúng hạn cho ngân hàng. - Rủi ro tín dụng là loại rủi ro lớn nhất quan trọng nhất trong hoạt động của ngân hàng, là loại rủi ro chủ yếu của ngân hàng.
Rủi ro tín dụng của ngân hàng xảy ra ở những mức độ khác nhau, rủi ro cấp độ nhẹ cũng sẽ làm cho ngân hàng giảm lợi nhuận, rủi ro cấp độ nặng làm cho ngân hàng không thu đủ vốn lãi, hoặc bị mất cả vốn lẫn lãi, dẫn đến ngân hàng bị thua lỗ. Nếu tình trạng kéo dài không khắc phục được ngân hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế. Nguyên nhân rủi ro tín dụng có thể khát quát thành hai nhóm chính đó là nguyên nhân khách quan và nguyên nhân thuộc về phía ngân hàng. Chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải hết sức thận trọng và có những biên pháp thích hợp để ngăn ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng.
Tóm lại, rủi ro tín dụng không chỉ tác động đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng mà rủi ro tín dụng còn tác động đến cả nền kinh tế. Vì vậy hoạt động kiểm soát rủi ro tín dụng là rất cần thiết trong hoạt động của ngân hàng thương mại. Sự cần thiết của kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng trong ngân hàng thương mại Hiện nay với sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường, áp lực suy thoái và những khó khăn nhiều chiều từ nền kinh tế, các NHTM ngày càng quan tâm nhiều hơn đến hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm giúp cho ngân hàng hạn chế những sự cố, mất mát, thiệt hại và tăng hiệu quả hoạt động của tổ chức. Dưới góc nhìn của nhà quản lý ngân hàng thương mại thì có hai hệ thống chạy song song trong ngân hàng.
Đầu tiên là hệ thống đáp ứng yêu cầu kinh doanh, bao gồm các phòng ban chức năng, quy trình thủ tục, các công việc cần thiết để phục phụ cho hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên bất kỳ công việc nào, quy trình nào khi thực hiện đều có thể đối diện với những nguy cơ, sự cố, hay rủi ro tác động làm ảnh hưởng đến khả năng hoàn thành mục tiêu của ngân hàng đã đề ra và tùy mức độ tác động mà nó tạo ra thiệt hại ở mức chấp nhận được hay thiệt hại dẫn đến nguy cơ phá sản. Nhằm giảm thiểu rủi ro cho NHTM ở ngưỡng chấp nhận được, hệ thống thứ hai là hệ thống kiểm soát nội bộ nói chung và KSNB hoạt động tín dụng nói riêng. Được thiết lập trên cơ sở các biện pháp, chính sách thủ tục, giá trị, chức năng, thẩm quyền của những người liên quan và trở thành phương tiện sống còn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, giúp ngân hàng nâng cao năng lực, cải tiến hiệu quả hoạt động, hạn chế các sự cố và hoàn thành mục tiêu đề ra.
Sự cần thiết phải xây dựng kiểm soát nội bộ như trên là rất cấp thiết cho hoạt động kinh doanh của NHTM nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng. Tuy vậy, việc thiết kế một bộ phận KSNB như thế nào, gồm những thành phần gì, thực hiện như thế nào…vẫn còn gặp nhiều khó khăn và lúng túng. Đòi hỏi nhà quản lý phải thiết lập, điều hành để bộ phận KSNB có thể vận hành tốt. Điều quan trọng nhất là nhà quản lý phải luôn nhận thức rằng KSNB là hoạt động rất quan trọng và là một phần không thể thiếu đối với Luan van 12 hoạt động của NHTM, là nền tảng cho sự hoạt động an toàn và lành mạnh của các ngân hàng.
Ngoài ra bộ phận KSNB sẽ giúp ngân hàng tuân thủ các quy định pháp luật của Nhà nước, chính sách tín dụng, kế hoạch hoạt động kinh doanh, các quy tắc nội bộ và các thủ tục kiểm soát nhằm giảm thiểu rủi ro có thể gặp phải và hạn chế thiệt hại có thể xảy ra trong quá trình hoạt động. KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm, mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong ngân hàng thương mại. Khái niệm Hiện nay có rất nhiều quan niệm và định nghĩa về hệ thống kiểm soát nội bộ [11, tr.
Theo ngân hàng thế giới (WB): Hệ thống kiểm soát nội bộ là cơ cấu tổ chức cộng với những biện pháp, thủ tục do ban quản trị của TCTD thực thể chấp nhận; nhằm hỗ trợ thực thi mục tiêu của ban quản trị đảm bảo tăng khả năng thực tiễn tiến hành kinh doanh trong trật tự và có hiệu quả. Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế (ISA 400): Hệ thống kiểm soát nội bộ là toàn bộ những chính sách, thủ tục (KSNB) do ban giám đốc của đơn vị thiết lập nhằm đảm bảo việc quản lý chặt chẽ và sự hiệu quả của các hoạt động trong khả năng có thể; Các thủ tục này đòi hỏi việc tuân thủ của chính sách quản lý, bảo quản tài sản, ngăn ngừa và phát hiện gian lận hoặc sai sót.