Chương 1 giới thiệu tổng quan về đề tài. Chương 2 sẽ trình bày nền tảng cơ sở lý thuyết đồng thời sẽ tóm ược quá trình hình thành, phát triển của TTCK Việt Nam và những rủi ro khi tham gia TTCK Việt Nam. Chương 3 sẽ trình bày về quy trình cũng như phương pháp thực hiện của đề tài bao gồm các miêu tả dữ liệu nghiên cứu và nguồn gốc thu thập các dữ liệu đó, cách thức xử lý số liệu đầu vào, cách xác định các nhân tố cần có trong mô hình hồi quy và miêu tả phương trình hồi quy sẽ được sử dụng để tiến hành kiểm định. Chương 4 sẽ trình bày kết quả thu thập được từ quá trình hồi quy, đồng thời tiến hành phân tích các kết quả đạt được.
Chương 5 sẽ đưa ra kết luận và những hạn chế đề tài gặp phải. 11 CHƢƠNG 2 : NỀN TẢNG LÝ THUYẾT V TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 2. LÝ THUYẾT DANH MỤC ĐẦU TƢ 2. Khái niệm danh mục đầu tƣ Danh mục đầu tư (Investment Portfolio) là sự kết hợp nắm giữ các loại chứng khoán, hàng hóa, bất động sản, các công cụ tương đương tiền mặt hay các tài sản khác bởi một cá nhân hay một nhà đầu tư thuộc tổ chức.
Mục đích của danh mục đầu tư là làm giảm rủi ro bằng cách đa dạng hoá đầu tư. Danh mục đầu tư (DMĐT) là tập hợp bao gồm một hoặc nhiều loại tài sản đầu tư khác nhau. Tài sản đầu tư (Investment Asset) là các tài sản được các nhà đầu tư nắm giữ chủ yếu với mục đích đầu tư. Ngược lại, tài sản tiêu dùng (Consumption Assets) là các tài sản được nắm giữ chủ yếu với mục đích tiêu dùng như xe cộ, quần áo, nhà ở, thiết bị gia đình, trang sức, thực phẩm.
Sự phát triển của thị trường tài chính đã tạo ra nhiều loại tài sản tài chính và công cụ đầu tư phong phú đa dạng. Đồng thời, các lý thuyết đầu tư hiện đại và nhiều bằng chứng thực nghiệm đã cho thấy hiệu ứng rõ ràng của việc giảm thiểu rủi ro thông qua quá trình đa dạng hoá danh mục đầu tư. Do vậy, các nhà tổ chức và cá nhân thường không chỉ đầu tư vào một loại tài sản đầu tư đơn ẻ mà kết hợp sở hữu nhiều loại tài sản đầu tư khác trong trong một danh mục. Đây chính à quan điểm đầu tư theo danh mục.
Các loại tài sản trong danh mục đầu tƣ Theo cách phân loại của CFA Institue, các loại tài sản đầu tư chủ yếu thường được nắm giữ bởi các nhà đầu tư tổ chức và cá nhân bao gồm: Cổ phiếu (CP) o Cổ phiếu nội địa (Domestic equities) 12 CP các công ty lớn (Large - Capitalization) CP các công ty nhỏ (Small – Capitalization) o Cổ phiếu quốc tế (International equities) CP trên thị trường các nước phát triển (Major country market) CP trên thị trường các nước mới nổi (Emerging market) Các công cụ đầu tƣ có lợi suất cố định (Fix – Income Investment) o Cổ phiếu ƣu đãi (Prefered Stock) o Trái phiếu (Bonds) Trái phiếu chính phủ (Governments and Agencies Bond) Trái phiếu công ty (Corporates Bond), bao gồm trái phiếu có các mức xếp hạng tín nhiệm khác nhau. o Các công cụ có nguồn gốc từ các tài sản đƣợc chứng khoán hóa (Asset Backed Securities): Phổ phiến nhất là chứng khoán có nguồn gốc từ các khoản vay bất động sản (Mortgage – backed securities) và các nghĩa vụ nợ có đảm bảo (Collateralized Debt Obligations - CDO). o Các công cụ thị trƣờng tiền tệ (Money market instruments): Tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, thương phiếu, hợp đồng Repo… o Các công cụ tài chính phái sinh (Derivatives): Các công cụ tài chính phái sinh như hợp đồng kỳ hạn (Forward Contracts), hợp đồng tương ai (Futures Contracts), hợp đồng quyền chọn (Option Contracts), hợp đồng hoán đổi (Swap Contracts). Các hình thức đầu tƣ khác (Alternative Investments) Bao gồm các hình thức đầu tư như: Bất động sản (Real estate), vốn cổ phần riêng lẻ (Private equity), vốn đầu tư mạo hiểm (Venture capital), quỹ phòng hộ (Hedge Funds), các loại hàng hoá (Commodities), ngoại tệ (Foreign Currency)… 13 Các hình thức đầu tư khác này thường có các đặc điểm chủ yếu như tính thanh khoản thấp, thời hạn đầu tư tương đối dài, khó xác định giá thị trường, thiếu các dữ liệu quá khứ về lợi nhuận và rủi ro, cần những yêu cầu phức tạp hơn trong quá trình phân tích… Việc lựa chọn nắm giữ các loại tài sản đầu tư khác nhau, với tỷ trọng khác nhau tùy thuộc vào mục tiêu đầu tư cụ thể của từng nhà đầu tư.
Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tƣ Ngày nay, hoạt động quản lý danh mục đầu tư (Portfo io Management Services – QLDMĐT) không còn đơn thuần là nghiệp vụ nội bộ trong các tổ chức tài chính mà nó đã trở thành một dịch vụ được chuyên nghiệp hóa và phát triển rộng rãi. Dịch vụ QLDMĐT à một trong những dịch vụ cơ bản và quan trọng trên thị trường tài chính. Có rất nhiều tổ chức như: công ty quản lý quỹ, ngân hàng đầu tư, công ty chứng khoán… chuyên cung cấp dịch vụ này cho các khách hàng là cá nhân, các doanh nghiệp, công ty đầu tư, quỹ hưu bổng, công ty bảo hiểm, ngân hàng … Dịch vụ này có thể được biết đến dưới nhiều tên gọi khác nhau như: dịch vụ quản lý tài sản (Asset Management), dịch vụ quản lý tài sản cá nhân (Private Wealth Management), dịch vụ quản ý đầu tư (Investment Management), dịch vụ ủy thác đầu tư (Investment trust), dịch vụ ngân hàng cá nhân (Private Banking)… Theo nghị định 144/2003/NĐ-CP “Quản lý danh mục đầu tư chứng khoán là hoạt động quản lý vốn của khách hàng thông qua việc mua, bán và nắm giữ các chứng khoán vì quyền lợi của khách hàng”. Theo uật Chứng khoán ngày 29/06/2007: “Quản lý danh mục đầu tư chứng khoán là việc công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán thực hiện quản lý theo ủy thác của từng nhà đầu tư trong mua, bán, nắm giữ chứng khoán”.
Như vậy, hoạt động QLDMĐT về bản chất chính là nghiệp vụ ủy thác đầu tư được thực hiện thông qua cơ chế hợp đồng ủy thác QLDMĐT (còn được gọi là hợp đồng quản ý đầu tư). Hợp đồng quản ý đầu tư à hợp đồng ký kết giữa 14 khách hàng là tổ chức hoặc cá nhân trong nước và ngoài nước với công ty quản lý quỹ (CTQLQ), uỷ thác cho CTQLQ quản ý đầu tư tài sản của mình. Hoạt động này có sự tham gia của hai bên. Nhà đầu tư ủy thác là cá nhân hoặc tổ chức ủy thác cho CTQLQ đầu tư tài sản của mình.
Bên nhận ủy thác chính là CTQLQ hoặc các tổ chức tài chính khác. Trong đó, bên nhận ủy thác sẽ thay mặt khách hàng nắm giữ tài sản và thực hiện các quyết định đầu tư thay cho khách hàng. Toàn bộ các tài sản ủy thác vẫn hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của khách hàng ủy thác, nhà đầu tư ủy thác được hưởng toàn bộ lợi nhuận và gánh chịu mọi rủi ro từ hoạt động đầu tư do bên nhận ủy thác thực hiện. Để thực hiện nghiệp vụ này, nhà đầu tư ủy thác sẽ phải trả phí cho bên nhận ủy thác thường bao gồm phí quản lý và phí thưởng hoạt động.
Phân biệt nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tƣ và quản lý quỹ đầu tƣ Trong nghiệp vụ QLDMĐT, tài sản của các nhà đầu tư ủy thác phải được quản lý một cách độc lập, tách biệt khỏi tài sản của CTQLQ và tài sản của các nhà đầu tư khác. Kết quả đầu tư của các nhà đầu tư được hạch toán một cách độc lập, kết quả đầu tư của các nhà đầu tự do cùng một tổ chức nhận ủy thác quản lý có thể rất khác nhau. Điều này khác biệt với nghiệp vụ quản lý quỹ đầu tư, tài sản của các nhà đầu tư cùng góp vốn vào một quỹ đầu tư được công ty quản lý quỹ và ngân hàng giám sát quản lý thống nhất trong một quỹ đầu tư chung. Mỗi nhà đầu tư sở hữu một phần danh mục đầu tư của quỹ và được phân chia lợi nhuận hoặc gánh chịu rủi ro tương ứng với tỷ lệ góp vốn vào quỹ.
Quy trình xây dựng và quản lý danh mục đầu tƣ Quy trình xây dựng và quản lý DMĐT thường trải qua các công đoạn cơ bản như sau: 15 n 2- Qu tr n xây dựng và quản lý DMĐT Mỗi nhà đầu tư có thể có những cách thức và quy trình đầu tư khác nhau, mỗi nhà đầu tư tùy theo quan điểm hay thế mạnh của mình có thể có những chú trọng hay ưu tiên khác nhau đối với từng công đoạn nêu trên. Nhưng nhìn chung đối với những nhà đầu tư chuyên nghiệp, những công đoạn cơ bản trên uôn được tuân thủ. Xây dựng mục tiêu đầu tư (Investment Objectives) Xây dựng mục tiêu bao giờ cũng à khâu đầu tiên của một quá trình quản trị. Quy trình xây dựng danh mục đầu tư cũng bắt đầu bằng việc xây dựng mục tiêu đầu tư.
Việc xây dựng mục tiêu đầu tư đóng vai trò rất quan trọng bởi vì mục tiêu à cơ sở để xây dựng danh mục đầu tư, à cơ sở để điều chỉnh danh mục đầu tư và à căn cứ để đánh giá hiệu quả hoạt động của danh mục đầu tư. Mục tiêu đầu tư thường phải đề cập đến 3 yếu tố cơ bản như ợi nhuận mục tiêu (Performance Target), mức độ chấp nhận rủi ro (Risk Tolerance) và thời hạn thu hồi vốn (Time horizon). Ngoài ra mục tiêu đầu tư còn có thểđề cập đến những hạn chế hay 16 những ưu tiên trong hoạt động đầu tư. Mỗi nhà đầu tư dù à tổ chức hay cá nhân tùy theo những đặc thù, điều kiện hoàn cảnh cụ thể của mình có thể có những mục tiêu đầu tư rất khác nhau.
Lợi nhuận mục tiêu: Yếu tố quan trọng nhất trong mục tiêu đầu tư đó à mục tiêu về lợi nhuận. Lợi nhuận mục tiêu cần được xác định một cách cụ thể và có căn cứ rõ ràng. Việc xác định lợi nhuận mục tiêu của DMĐT phải căn cứ trên tình trạng hiện tại của môi trường đầu tư và những dự báo về xu hướng thay đổi của môi trường đầu tư trong tương ai. Môi trường đầu tư thuận lợi cho phép các nhà quản trị đặt mục tiêu lợi nhuận cao và ngược lại.