Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu lịch sử địa phương là phương thức quan trọng nhằm làm sáng tỏ và cụ thể hóa tiến trình lịch sử - văn hóa chung của toàn dân tộc. Nằm ở trung tâm vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, tỉnh Hà Nam là vùng đất cổ mang đặc trưng văn hóa vùng đồng bằng trũng ngập nước ven sông Châu Giang. Trong hệ thống di sản văn hóa tại địa phương, chùa Long Đọi Sơn (tên chữ là Diên Linh tự, thuộc xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam) là một trung tâm tôn giáo lớn của trấn Sơn Nam xưa và là một quần thể danh thắng tiêu biểu. Vào tháng 12/2017, chùa Long Đọi Sơn đã được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng là Di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2082/QĐ-TTg.

Trước bối cảnh giao lưu văn hóa và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc, tác giả Trần Thị Thúy Hằng đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Lịch sử Việt Nam với đề tài "Chùa Long Đọi Sơn (Duy Tiên, Hà Nam) từ thế kỉ XII đến năm 2018". Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là khôi phục bức tranh toàn diện về lịch sử hình thành, kiến trúc, hệ thống tượng thờ, di vật cổ và sinh hoạt lễ hội của di tích, từ đó xác định các giá trị lịch sử - văn hóa và phục vụ công tác giáo dục truyền thống tại địa phương.

Khóa luận xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Khái quát điều kiện tự nhiên, dân cư, kinh tế - xã hội và tiến trình lịch sử của xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên.
  2. Phác họa quá trình hình thành, các giai đoạn trùng tu, tôn tạo, quy mô kiến trúc qua các thời kỳ, cách bài trí tượng thờ và hệ thống cổ vật tại chùa Long Đọi Sơn.
  3. Khảo sát các sinh hoạt lễ hội truyền thống (hội chùa Long Đọi và lễ hội Tịch điền), qua đó đánh giá toàn diện các giá trị lịch sử - văn hóa, tôn giáo - tín ngưỡng, nghệ thuật kiến trúc, văn hóa phi vật thể và tiềm năng du lịch của di tích.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là di tích lịch sử - văn hóa chùa Long Đọi Sơn. Phạm vi không gian giới hạn tại không gian văn hóa chùa Long Đọi Sơn trên địa bàn xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Phạm vi thời gian trải dài từ khi ngôi chùa được khởi dựng vào thế kỷ XII dưới triều Lý đến năm 2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được triển khai dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo tồn di sản văn hóa dân tộc. Tác giả vận dụng các nguyên tắc nghiên cứu lịch sử chuyên ngành nhằm đảm bảo tính khách quan, chân thực và toàn diện của sự kiện.

Hệ thống phương pháp nghiên cứu được áp dụng gồm:

  • Phương pháp lịch sử: Tái hiện tiến trình hình thành, tồn tại, biến đổi và các giai đoạn trùng tu của di tích gắn liền với bối cảnh lịch sử của từng triều đại (Lý, Trần, Lê, Mạc, Nguyễn đến thời kỳ hiện đại).
  • Phương pháp logic và phân tích - tổng hợp: Phân tích các nguồn tư liệu thành văn, cấu trúc kiến trúc, hệ thống điêu khắc và các lớp tín ngưỡng nhằm rút ra các đặc trưng giá trị của di tích.
  • Phương pháp điền dã và phỏng vấn sâu: Khảo sát thực địa di tích, đo đạc, chụp ảnh kiến trúc, hiện vật và phỏng vấn trực tiếp sư trụ trì chùa Long Đọi Sơn cùng các vị bô lão tại địa phương.

Nguồn tư liệu sử dụng trong khóa luận gồm:

  • Tư liệu gốc: Các bộ chính sử như Đại Việt sử ký toàn thư (Ngô Sĩ Liên), Đại Nam nhất thống chí (Quốc sử quán triều Nguyễn), Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú), Việt sử lược; bản dịch nội dung văn bia tại di tích, đặc biệt là bia Sùng Thiện Diên Linh khắc năm 1121 và các văn bia thời Mạc, thời Nguyễn.
  • Tài liệu thứ cấp: Các công trình khảo cứu, sách chuyên khảo như Long Đọi Sơn tự xưa và nay (2005), Danh thắng chùa Đọi (Lương Hiền, 2001), Lịch sử chùa Long Đọi Sơn (Trần Duy Phương, 2004), cùng các bài viết nghiên cứu của GS. Trần Quốc Vượng, Trần Đăng Ngọc trên tạp chí Sông Châu.
  • Tư liệu điền dã: Báo cáo khảo cổ học năm 1984, kết quả khai quật nền móng tháp năm 2002 và ghi chép điền dã thực tế.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lịch sử chùa Long Đọi Sơn (Duy Tiên – Hà Nam)

Chương này tập trung trình bày điều kiện địa lý - nhân văn xã Đọi Sơn và tiến trình lịch sử của ngôi chùa qua các giai đoạn:

  • Khái quát về xã Đọi Sơn:

    • Điều kiện tự nhiên và dân cư: Xã Đọi Sơn có diện tích 7,52 km² (tổng diện tích đất hành chính 611,48 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 435,13 ha). Địa hình nổi bật với ngọn núi Đọi cao khoảng 90 m, diện tích 23,9 ha nằm giữa đồng bằng trũng, chân núi có dòng Châu Giang (xưa là sông Thiên Mạc, nhánh Tắc Giang). Vùng đất chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình 23–24°C, lượng mưa 1.900 mm/năm. Dấu tích khảo cổ học (mộ thuyền Đông Sơn phát hiện tháng 5/1984 cùng giáo, rìu, mũi lao đồng) chứng minh cư dân Lạc Việt đã định cư tại đây từ khoảng 2.500 năm trước. Dân số qua các thời kỳ: năm 1900 đạt 1.167 người, năm 1999 đạt 6.256 người và năm 2017 có hơn 7.000 người, gồm 100% người Kinh thuộc 5 dòng họ chính (Đinh, Lê, Phạm, Trần, Bùi).
    • Kinh tế - xã hội và lịch sử địa phương: Kinh tế chủ đạo là trồng lúa nước (chiếm 80% đất canh tác), trồng dâu nuôi tằm và làng nghề làm trống truyền thống Đọi Tam. Trải qua các giai đoạn lịch sử, địa bàn thuộc lộ Lợi Nhân (thời Trần), huyện Duy Tân (thời Lê sơ), huyện Duy Tiên (từ đời vua Lê Kính Tông). Trong hai cuộc kháng chiến, Đọi Sơn đóng góp sức người, sức của lớn (kháng chiến chống Pháp: du kích đánh 13 trận, bắt sống và tiêu diệt nhiều địch, đóng góp 315 tấn lương thực; kháng chiến chống Mỹ: 777 thanh niên nhập ngũ, đóng góp 10.300 ngày công) và được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 2005.
  • Tiến trình lịch sử chùa Long Đọi Sơn:

    • Thời điểm xây dựng: Tiền thân chùa là một am nhỏ từ thế kỷ X–XI gắn với Thiền sư Đàm Cứu Chỉ (995–1067). Đến thế kỷ XII, vua Lý Nhân Tông ra lệnh xây dựng lại quy mô lớn từ năm 1118 đến năm 1121, dựng tháp Sùng Thiện Diên Linh cao 13 tầng và đặt tên chùa là Sùng Thiện Diên Linh (nhân dân thường gọi là chùa Long Đọi Sơn).
    • Trùng tu, tôn tạo: Chùa bị quân Minh tàn phá trong giai đoạn 1407–1427. Năm 1467, vua Lê Thánh Tông đến vãn cảnh và cho khắc thơ lên mặt sau bia đá. Năm 1591 (thời Mạc), quan lại và nhân dân địa phương tổ chức trùng tu, dựng lại bia tượng. Dưới triều Nguyễn, chùa được sửa chữa nhiều lần, tiêu biểu là năm Tự Đức thứ 13 (1860) và năm 1864 do Hòa thượng Thích Chiếu Thường chủ trì mở rộng quy mô lên 125 gian, đúc tượng Di Lặc bằng đồng, lập trường Bắc Kỳ Phật giáo (trường Hạ). Năm 1947, chùa tiêu thổ kháng chiến và bị bỏ hoang; năm 1957 được nhân dân phục dựng bằng khung gỗ chuyển từ di tích Văn Chỉ sang. Năm 2002, sau đợt khai quật khảo cổ, chùa được tu bổ toàn diện hạ tầng, xây nhà kính bảo vệ hố móng tháp và được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt năm 2017.
    • Các vị trụ trì: Văn bản liệt kê 16 vị thiền sư tiêu biểu từng trụ trì hoặc có công lớn với chùa: Đàm Cứu Chỉ, Thích Hải Triều, Thích Tịnh Khoan, Thích Chiếu Tinh, Thích Trần Đức, Thích Chiếu Thường (1765–1840, người mở mang chùa 125 gian), Thích Thanh Tùng, Thích Bảo Thụ, Thích Thông Quyền, Thích Quảng Chí, Thích Tịnh Đức, Thích Thanh Quảng, Thích Thanh Bột, Thích Liên Huệ, Thích Đàm Thử, Thích Thanh Vũ (trụ trì từ năm 1989).
Niên đại / Giai đoạn Sự kiện lịch sử và hoạt động trùng tu chính
Thế kỷ X – XI Khởi dựng am nhỏ bằng gạch ngói gắn với Thiền sư Đàm Cứu Chỉ.
1118 – 1121 Vua Lý Nhân Tông xây dựng đại danh lam, dựng tháp Sùng Thiện Diên Linh 13 tầng và bia đá.
1407 – 1427 Chùa và tháp bị quân Minh tàn phá, hủy hoại phần lớn kiến trúc thời Lý.
1467 Vua Lê Thánh Tông đến thăm, cho dựng lại bia đổ và đề thơ ngự chế ở mặt sau bia.
1591 (Thời Mạc) Quan huyện Duy Tiên cùng nhân dân các thôn trùng tu, dựng lại cột xà, hành lang.
1860 – 1864 Hòa thượng Thích Chiếu Thường kiến thiết 125 gian kiểu "nội công ngoại quốc", đúc tượng Di Lặc đồng, đúc khánh đồng, khánh đá, lập trường Hạ.
1947 – 1957 Chùa bị tiêu thổ kháng chiến; năm 1957 các nhà sư và nhân dân phục dựng lại bằng vật liệu gỗ từ Văn Chỉ.
1992 – 2017 Năm 1992 xếp hạng Di tích quốc gia; năm 2002 khảo cổ và tu bổ tổng thể; ngày 25/12/2017 xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt.

Chương 2: Kiến trúc và lễ hội chùa Long Đọi Sơn

Chương 2 phân tích chi tiết không gian kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc cổ vật, hệ thống tượng thờ, cấu trúc lễ hội và giá trị di tích:

  • Kiến trúc và bài trí tượng thờ:

    • Kiến trúc tổng thể: Tọa lạc trên đỉnh núi Đọi, khuôn viên chùa rộng khoảng 2 ha với 17 đơn nguyên kiến trúc. Đường lên chùa gồm 373 bậc đá phiến. Kiến trúc trung tâm xây dựng theo kiểu chữ Đinh gồm Tiền đường (7 gian) và Thượng điện (3 gian), vì kèo kiểu "chồng đấu giá chiêng", cột cái đường kính 30 cm kê trên chân tảng đá cổ bồng, mái lợp ngói ta. Khuôn viên còn có nhà bia, hai dãy Thập điện, dãy Thập bát La Hán, Hậu điện, nhà Tổ, phủ Mẫu, nhà khách và vườn tháp mộ gồm 37–40 tháp mộ cổ.
    • Bài trí tượng thờ: Bài trí theo Phật giáo Bắc Tông gồm 4 lớp chính trên Thượng điện: Lớp 1 (Tam thế Phật), Lớp 2 (Di Đà Tam tôn: A Di Đà, Quan Thế Âm, Đại Thế Chí), Lớp 3 (Di Lặc, Thánh Tăng, Thổ Địa), Lớp 4 (Tòa Cửu Long); Tiền đường đặt tượng Hộ pháp Kim Cương; hành lang thờ 18 vị La Hán. Nhà Hậu điện phối thờ Mẫu Liễu Hạnh, vua Lý Thánh Tông, vua Lý Nhân Tông, Thái hậu Ỷ Lan và Lê Đại Hành Hoàng đế.
  • Cổ vật và bảo vật quốc gia:

    • Bia Sùng Thiện Diên Linh: Công nhận Bảo vật quốc gia đợt 2 theo Quyết định số 2599/2013/QĐ-TTg ngày 30/12/2013. Bia cao 2,5 m, rộng 1,65 m, dày 0,3 m đặt trên bệ đá nguyên khối (dài 2,4 m, rộng 1,8 m, cao 0,5 m) chạm sóng thủy ba và hai con rồng. Văn bia do Hình bộ Thượng thư Nguyễn Công Bật soạn năm 1121; mặt sau khắc bài thơ của vua Lê Thánh Tông (1467) và văn bia thời Mạc (1591).
    • Tượng Kim Cương: 6 pho tượng hộ pháp bằng đá thời Lý (nguyên gốc có 8 pho), cao xấp xỉ 1,60 m, tạc nổi bán phù điêu, trang phục võ quan thời Lý, giáp trụ chạm hoa cúc và hoa văn sóng nước, đứng chống gươm trước bụng.
    • Tượng Kinari (Đầu người mình chim): 2 pho tượng bằng đá ráp xám nặng 35 kg, cao 40 cm, rộng 31 cm, chân đế 20 cm x 20 cm, tạc hình nữ nhạc công đánh não bạt, thể hiện sự giao thoa giữa mỹ thuật thời Lý và nghệ thuật Chămpa.
    • Các hiện vật khác: Tượng Phật Di Lặc bằng đồng đúc năm 1864 nặng trên 1.000 kg; 2 chuông đồng thời Nguyễn (nặng 1,5 tạ/chuông, đường kính 50 cm, cao 95 cm); 1 khánh đồng nặng 50 kg (rộng 1,2 m, cao 0,8 m); các mảng gốm, ngói mũi sen trang trí thời Lý thu được qua khảo cổ.
Tên cổ vật / Hiện vật Niên đại Kích thước / Trọng lượng Đặc điểm nghệ thuật, kỹ thuật
Bia Sùng Thiện Diên Linh Năm 1121 (Thời Lý) Cao 2,5 m; rộng 1,65 m; dày 0,3 m. Bệ: 2,4 x 1,8 x 0,5 m Đá nguyên khối; trán bia chạm đôi rồng chầu tên bia chữ phi bạch; bệ bia chạm sóng thủy ba và đồ án rồng; văn tự biền ngẫu.
Tượng Bát bộ Kim Cương Thời Lý (thế kỷ XII) Cao khoảng 1,60 m (còn 6 pho) Đá khối tạc bán phù điêu; trang phục giáp trụ võ tướng chạm hoa cúc dây; hai tay cầm gươm chống trước bụng.
Tượng Kinari (Đầu người mình chim) Thời Lý (thế kỷ XII) Cao 40 cm; rộng 31 cm; nặng 35 kg; đế 20 x 20 cm Đá ráp xám; nửa thân trên là thiếu nữ đánh não bạt, nửa thân dưới là chim mang hoa văn rồng thời Lý; giao lưu văn hóa Việt - Chăm.
Tượng Phật Di Lặc đồng Năm 1864 (Thời Nguyễn) Trọng lượng trên 1.000 kg Tượng đồng nguyên khối; là pho tượng Phật bằng đồng lớn nhất trong các ngôi chùa cổ ở Hà Nam.
Chuông đồng và khánh đồng Thời Nguyễn Chuông: nặng 1,5 tạ, cao 95 cm. Khánh: nặng 50 kg, rộng 1,2 m Đúc bằng hợp kim đồng; phục vụ nghi lễ tôn giáo và sinh hoạt trường Hạ.
  • Lễ hội truyền thống:

    • Hội chùa Long Đọi Sơn: Chính hội diễn ra ngày 21 tháng 3 âm lịch (ngày giỗ Hòa thượng Thích Chiếu Thường), kết hợp tưởng niệm vua Lý Nhân Tông và Thái hậu Ỷ Lan. Nghi lễ thực hiện nghiêm ngặt bằng cúng chay lục cúng (hương, đăng, hoa, quả, thực, trà), kiêng gọi tên húy của các bậc đế vương. Phần hội tổ chức các trò chơi dân gian: chọi gà (thi đấu vòng tròn 4 vòng trên xới cót 4 m²), hát giao duyên đối đáp nam nữ, hát chèo sân đình (các tích Quan Âm Thị Kính, Lưu Bình - Dương Lễ, Trương Viên), thổi cơm thi (nam kéo lửa bằng bùi nhùi nứa, nữ gánh niêu đất vừa đi ngược chiều kim đồng hồ vừa nấu) và thi đấu vật cổ truyền.
    • Lễ hội Tịch điền Đọi Sơn: Bắt nguồn từ sự kiện mùa xuân năm Đinh Hợi (987), vua Lê Đại Hành cày ruộng tại chân núi Đọi. Lễ hội được khôi phục từ năm 2009, diễn ra từ ngày mồng 5 đến mồng 7 tháng Giêng âm lịch với nghi lễ rước nước, hội thi vẽ trang trí trâu và nghi thức xuống đồng cày ruộng tịch điền theo thứ bậc (đại diện vua cày 3 sá, lãnh đạo tỉnh cày 5 sá, lãnh đạo huyện cày 7 sá, bô lão cày 9 sá).
  • Giá trị di tích: Luận án tổng kết 5 nhóm giá trị cốt lõi gồm: Giá trị lịch sử - văn hóa (cung cấp tư liệu gốc duy nhất về hội đèn Quảng Chiếu, nghệ thuật múa rối nước, kiến trúc chùa Diên Hựu thời Lý); Giá trị tôn giáo - tín ngưỡng (trung tâm Phật giáo và đạo tràng trường Hạ); Giá trị kiến trúc - mỹ thuật (đỉnh cao điêu khắc đá thời Lý); Giá trị văn hóa phi vật thể (mỹ tục khuyến nông và kho tàng diễn xướng dân gian); Giá trị phát triển du lịch trong Quy hoạch tổng thể du lịch Hà Nam tầm nhìn đến năm 2030.

Kết quả và đóng góp của đề tài

Nghiên cứu đạt được các kết quả và đóng góp học thuật cụ thể:

  • Kết quả khoa học: Hệ thống hóa toàn diện tư liệu lịch sử của chùa Long Đọi Sơn từ khởi nguồn thế kỷ X–XI, thời kỳ hoàng kim thế kỷ XII dưới triều Lý, các giai đoạn tàn phá, trùng tu qua các triều đại Lê, Mạc, Nguyễn đến diện mạo năm 2018. Khóa luận ghi nhận chính xác các thông số vật thể: diện tích khuôn viên 2 ha, 17 hạng mục kiến trúc, 373 bậc đá, 37–40 tháp mộ cổ, cùng số liệu chi tiết của các bảo vật (bia Sùng Thiện Diên Linh cao 2,5 m; 6 tượng Kim Cương 1,60 m; 2 tượng Kinari 35 kg; tượng Di Lặc đồng 1.000 kg).
  • Đóng góp về mặt tư liệu: Tập hợp và khảo cứu danh sách 16 vị trụ trì qua các thời kỳ; phân tích đầy đủ quy trình hai lễ hội tiêu biểu tại núi Đọi (lễ hội chùa tháng 3 âm lịch và lễ hội Tịch điền tháng Giêng).
  • Đóng góp ứng dụng: Cung cấp tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy phần lịch sử địa phương tại các trường phổ thông trên địa bàn tỉnh Hà Nam; đóng góp luận cứ khoa học cho công tác quản lý, quy hoạch bảo tồn Di tích quốc gia đặc biệt và phát triển cụm du lịch văn hóa tâm linh núi Đọi - sông Châu - làng nghề Đọi Tam.

Hạn chế và hướng phát triển nghiên cứu

  • Hạn chế: Do nguồn sử liệu thành văn về thời kỳ khởi dựng thế kỷ X–XI còn hạn chế và kiến trúc gỗ nguyên gốc thời Lý đã bị phá hủy hoàn toàn trong chiến tranh thời Minh (1407–1427), việc phục dựng chi tiết mặt bằng tháp 13 tầng Sùng Thiện Diên Linh chủ yếu dựa trên mô tả của văn bia và các hố khai quật khảo cổ học năm 2002.
  • Hướng phát triển nghiên cứu: Mở rộng nghiên cứu so sánh liên ngành giữa mỹ thuật điêu khắc đá chùa Long Đọi Sơn với các phế tích Phật giáo thời Lý đương đại (như chùa Phật Tích, chùa Dạm, tháp Chương Sơn); dịch thuật và khảo cứu toàn diện kho tàng thác bản văn bia Hán Nôm và văn tế còn lưu giữ tại chùa; nghiên cứu giải pháp liên kết chuỗi du lịch di sản văn hóa đồng bằng sông Hồng.

Giá trị tham khảo thực tiễn và học thuật

Công trình có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Học tập và nghiên cứu: Sinh viên, học viên chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Khảo cổ học, Hán Nôm, Văn hóa học, Lịch sử Mỹ thuật và Tôn giáo học có thể sử dụng công trình như một tài liệu khảo cứu chi tiết về văn hóa thời Lý và lịch sử Phật giáo vùng Sơn Nam.
  • Giảng dạy: Giáo viên bộ môn Lịch sử tại các trường trung học phổ thông, cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh Hà Nam sử dụng làm tài liệu biên soạn bài giảng lịch sử địa phương.
  • Công tác quản lý và bảo tồn di sản: Ban Quản lý di tích tỉnh Hà Nam, chính quyền thị xã Duy Tiên (huyện Duy Tiên cũ) tham khảo các số liệu hiện trạng và khảo cứu lễ hội để xây dựng phương án bảo tồn di tích quốc gia đặc biệt, tổ chức không gian lễ hội truyền thống và phát triển du lịch bền vững.

Câu hỏi thường gặp

1. Tấm bia Sùng Thiện Diên Linh tại chùa Long Đọi Sơn có đặc điểm kích thước và giá trị văn bản như thế nào?
Bia Sùng Thiện Diên Linh được khắc năm 1121 dưới triều vua Lý Nhân Tông, được công nhận là Bảo vật quốc gia năm 2013. Thân bia cao 2,5 m, rộng 1,65 m, dày 0,3 m đặt trên bệ đá chạm rồng và sóng nước dài 2,4 m, rộng 1,8 m, cao 0,5 m. Mặt trước khắc bài văn biền ngẫu do Hình bộ Thượng thư Nguyễn Công Bật soạn; mặt sau khắc ngự thi của vua Lê Thánh Tông (năm 1467) và văn bia thời Mạc (năm 1591). Đây là tài liệu duy nhất ghi chép về hội đèn Quảng Chiếu, múa rối nước và kiến trúc chùa Diên Hựu thời Lý.

2. Lễ hội Tịch điền Đọi Sơn có nguồn gốc lịch sử từ thời điểm nào và quy trình nghi thức ra sao?
Lễ hội bắt nguồn từ mùa xuân năm Đinh Hợi (987) khi vua Lê Đại Hành lần đầu tiên cày ruộng tịch điền dưới chân núi Đọi để khuyến khích phát triển nông nghiệp. Sau thời gian gián đoạn, lễ hội được phục dựng từ năm 2009 vào mùng 5 đến mùng 7 tháng Giêng âm lịch. Nghi thức chính gồm: rước nước, thi vẽ trang trí trâu và đường cày tịch điền phân cấp theo thứ bậc (đại diện vua cày 3 sá, lãnh đạo tỉnh cày 5 sá, lãnh đạo huyện cày 7 sá, lãnh đạo xã và bô lão cày 9 sá).

3. Kiến trúc chùa Long Đọi Sơn hiện nay được hình thành từ đợt trùng tu nào?
Kiến trúc tổng thể của chùa hiện nay là kết quả của đợt phục dựng năm 1957 (sau khi bị phá hủy do tiêu thổ kháng chiến năm 1947), sử dụng toàn bộ khung gỗ chuyển từ di tích Văn Chỉ sang, và đợt tu bổ lớn năm 2002 sau khai quật khảo cổ. Khuôn viên rộng 2 ha gồm 17 hạng mục, kiến trúc chính xây kiểu chữ Đinh (Tiền đường 7 gian, Thượng điện 3 gian) cùng hệ thống nhà bia, Hậu điện, nhà Tổ và vườn tháp mộ.

4. Điêu khắc tượng Kinari ở chùa Long Đọi phản ánh hiện tượng giao lưu văn hóa nào?
Hai pho tượng Kinari (đầu người mình chim) bằng đá ráp xám thế kỷ XII nặng 35 kg thể hiện hình tượng nữ nhạc công đánh não bạt trong tư thế nửa người nửa chim. Tác phẩm phản ánh sự giao lưu văn hóa giữa nghệ thuật Đại Việt thời Lý và văn hóa Chămpa (ảnh hưởng từ thần thoại Ấn Độ giáo), trong đó yếu tố tạo hình Chăm kết hợp hài hòa với đồ án hoa văn rồng và hoa sen đặc trưng thời Lý.

5. Vì sao ngày chính hội chùa Long Đọi Sơn lại được tổ chức vào ngày 21 tháng 3 âm lịch?
Ngày 21 tháng 3 âm lịch là ngày giỗ của Hòa thượng Thích Chiếu Thường (1765–1840, vị sư tổ đời thứ 5 tại chùa). Ông là người có công lớn trong việc trùng tu mở rộng chùa lên quy mô 125 gian, đúc tượng Di Lặc bằng đồng nặng trên 1.000 kg và lập trường Bắc Kỳ Phật giáo vào thế kỷ XIX. Lễ hội được tổ chức vào ngày này để tưởng niệm công đức của Hòa thượng cùng các vị vua thời Lý có công tạo dựng ngôi chùa.

Kết luận

Khóa luận "Chùa Long Đọi Sơn (Duy Tiên, Hà Nam) từ thế kỉ XII đến năm 2018" của tác giả Trần Thị Thúy Hằng là công trình nghiên cứu lịch sử địa phương có tính hệ thống và nguồn tư liệu phong phú. Bằng việc kết hợp tài liệu chính sử, văn bia Hán Nôm và kết quả điền dã khảo cổ học, tác giả đã tái hiện rõ nét tiến trình biến đổi lịch sử, diện mạo kiến trúc, hệ thống bảo vật và không gian lễ hội của ngôi cổ tự. Công trình khẳng định vị thế của chùa Long Đọi Sơn như một trung tâm văn hóa - tôn giáo tiêu biểu của vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học thiết thực cho công tác bảo tồn di sản văn hóa và giảng dạy lịch sử địa phương.