Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về Chương trình Truyền hình dành cho trẻ em của Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay. Chương 2: Nội dung, hình thức về thông tin giáo dục và tính giải trí cho trre em qua các chương trình truyền hình dành cho trẻ em của Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay được khảo sát qua 2 chương trình đại diện cho kênh VTV1, VT3, VTV7. Chương 3: Một số giải pháp nhằm cải thiện, nâng cao Chương trình Truyền hình dành cho trẻ em của Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay. Nội dung của luận văn sẽ được trình bày theo thứ tự các chương trên.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHƢƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH CHO TRẺ EM CỦA ĐÀI TRUYÊN HÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Một số khái niệm liên quan 1. Truyền hình Có nhiều khái niệm khác nhau về truyền hình, như hai tác giả người Pháp Brigitte và Didier Deormeax, trong cuốn Phóng sự truyền hình, quan niệm rằng truyền hình là “truyền thanh có minh họa”. Tác giả Tạ Ngọc Tấn, trong cuốn Truyền thông đại chúng, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, 2001 cho rằng: Truyền hình là một loại phương tiện thông tin đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh.
Nguyên nghĩa của thuật ngữ vô tuyến truyền hình được bắt đầu từ hai chữ Tele có nghĩa là “ở xa” và vision nghĩa là “thấy được”, tức là “thấy được ở xa” [34, tr. Theo Đại từ điển tiếng Việt thì: “truyền hình là truyền hình ảnh và âm thanh bằng sóng điện vô tuyến” [52, tr.TS Dương Xuân Sơn chỉ ra rằng truyền hình xuất hiện vào đầu thế kỷ thứ XX và phát triển với tốc độ như vũ bão nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, công nghệ, tạo ra một kênh thông tin quan trọng trong đời sống xã hội. Từ chỗ chỉ là một phương tiện giải trí ở thập kỉ 50 của thế kỷ XX, truyền hình đã dần trở thành một loại hình báo chí có tác động xã hội mạnh mẽ nhất hiện nay. Sự ra đời của truyền hình đã góp phần làm cho hệ thống truyền thông đại chúng càng thêm hùng mạnh, không chỉ tăng về số lượng mà còn tăng về chất lượng.
Công chúng của truyền hình ngày càng đông đảo trên khắp hành tinh. Với những ưu thế về kỹ thuật và công nghệ, truyền hình đã làm cho cuộc sống như được cô đọng lại, làm giàu thêm ý nghĩa, sáng tỏ hơn về hình thức và phong phú hơn về nội dung. 15 z Và trong “Tập bài giảng môn Truyền hình”, kho Báo chí truyền ĐH KHXH và NV, ĐH QG Hà Nội, tác giả Dương Xuân Sơn cũng đã định nghĩa: Truyền hình là một phương tiện truyền thông đại chúng truyền đạt thông tin nhờ phương tiện kĩ thuật đến đối tượng tiếp nhận là người xem. Thông tin trong truyền hình gồm: hình ảnh và âm thanh.
Hình ảnh trong truyền hình có cả hình ảnh động và hình ảnh tĩnh. Âm thanh là lời nói (lời bình, lời phát thanh viên, lời phóng viên.) tiếng động hiện trường (cường độ, cao độ, tiết tấu)” [49, tr 3].TS Nguyễn Văn Dững đưa ra quan niệm: Truyền hình là kênh truyền thông đại chúng ra đời sau, kế thừa được các thế mạnh của các kênh trước đó như điện ảnh, báo in, phát thanh.Và ngày nay đang tận hưởng tối đa môi trường truyền thông số trên mạng internet. Truyền hình là kênh truyền thông chuyển tải thông điệp bằng hình ảnh động với nhiều màu sắc vốn có từ cuộc sống cùng với lời nói, âm nhạc, tiếng động. Nhờ thế, truyền hình đem lại cho công chúng bức tranh sống động với cảm giác như đang trực tiếp tiếp xúc và cảm thụ.
Đó là bức tranh về cuộc sống thật nhưng được thu nhỏ, được “rút gọn”, được “làm giàu thêm về ý nghĩa, làm sáng rõ hơn về hình thức”, được chắt lọc hơn về ý tưởng và làm phong phú hơn về giá trị tinh thần giúp người xem nhận thức rõ hơn, đúng hơn, trúng hơn, gần gũi và sinh động hơn về những sự kiện và vấn đề của cuộc sống. [12, tr118] Như vậy, các khái niệm trên đều xác định phương tiện ngôn ngữ của truyền hình là hình ảnh và âm thanh. Đây cũng chính là đặc trưng của truyền hình, yếu tố phân biệt truyền hình với các loại hình thông tin báo chí khác. Sự kết hợp hài hòa giữa hai yếu tố này đã tạo cho truyền hình khả năng chuyển tải các nội dung phong phú của đời sống xã hội, khả năng đặc biệt trong việc đa dạng hóa chức năng, đáp ứng nhu càu thông tin cho đông đảo công chúng.
Kế thừa những khái niệm trên, tác giả xin được mạnh dạn đưa ra quan niệm: truyền hình là một phương tiện truyền thông đại chúng, chuyển tải thông tin đến công chúng thông qua âm thanh và hình ảnh, có tác động mạnh mẽ đến giác quan cảm xúc của người xem. 16 z Ngày nay, truyền hình là phương tiện thiết yếu trong mỗi gia đình ở mỗi quốc gia, mang lại lợi ích cho từng cá nhân, tác động đến mọi mặt của đời sống chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội. Chương trình truyền hình Khán giả xem truyền hình nhưng không xem những thông tin lộn xộn. Mọi thông tin, tác phẩm trên truyền hình để đến được với công chúng đều phải được tổ chức, sắp xếp theo một trật tự nhất định nhằm tạo điều kiện cho người xem dễ dàng theo dõi và tiếp nhận thông tin, đồng thời tạo cho truyền hình một cấu trú thông tin ổn định, hoàn chỉnh.
Việc tổ chức, sắp xếp ấy sau cùng tạo nên chương trình truyền hình. Theo “Giáo trình báo chí truyền hình” của tác giả Dương Xuân Sơn thì: Chương trình truyền hình là sự liên kết, sắp xếp, bố trí hợp lý các tin bài, bảng biểu, tư liệu, hình ảnh và âm thanh, được mở đầu bằng lời giới thiệu nhạc hiệu, kết thúc bằng lời chào tạm biệt, đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo chí truyền hình, nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho khán giả. Theo nguồn sản xuất chương trình truyền hình chuyên nghiệp thì: Chương trình truyền hình hay chương trình ti-vi hay chương trình TV (tiếng Anh: television program, television show) là một phân đoạn của nội dung dự định để phát sóng trên truyền hình, mà không phải là một đoạn quảng cáo thương mại, quảng cáo kênh hay quảng cáo phim. Nó có thể là một bản sản xuất duy nhất, hoặc phổ biến hơn, một loạt các phần liên quan (cũng được gọi là một phim bộ truyền hình).
Chương trình phát sóng chỉ 1 lần có thể được xem là một chương trình “đặc biệt”. Một bộ phim truyền hình (“phim sản xuất cho truyền hình” hay “bộ phim truyền hình”) là một bộ phim mà ban đầu được phát sóng trên truyền hình, thay vì so với một bộ phim được công chiếu lần đầu ở các rạp chiếu phim. Một chương trình có thể được ghi lại như trên băng video hoặc các vật lưu trữ khác nhau, hoặc không lưu trữ mà để truyền hình trực tiếp. 17 z Tóm lại, có thể hiểu “chương trình truyền hình” là một sản phẩm báo chí có nội dung và hình thức ổn định, mang đặc trưng của truyền hình (chuyển tải thông tin bằng hình ảnh động và âm thanh).
Hầu hết các chương trình truyền hình đều có tính ổn định về nội dung, hình thức, được phát sóng theo định kỳ”. Ngoài ra, chương trình truyền hình còn có những đặc điểm sau: - Mỗi chương trình truyền hình đều có nội dung và mục đích riêng: Tùy từng đối tượng mà có nội dung khác nhau, song mục đích cuối cùng của các chương trình trò truyền hình đều hướng đến phục vụ nhu cầu của công chúng như thư giãn, giải trí, giáo dục lành mạnh. - Kết cấu của mỗi chương trình trò chơi truyền hình ổn định: một chương trình truyền hình thường có một hoặc nhiều phần, có thể có những chủ đề riêng tuy nhiên kết cấu tương đối ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho người theo dõi. - Thời lượng của mỗi chương trình thường ổn định, ngắn gọn: thời lượng của chương trình phụ thuộc vào vai trò, vị trí, chức năng và quy mô của chương trình đó.
Đồng thời còn phụ thuộc vào nội dung chương trình, tâm lý tiếp nhận của người xem và từng lứa tuổi. Khung thời lượng thường thấy của các chương trình thường là 15, 30 hoặc 45 đến 60 phút. - Thời điểm phát sóng của các chương trình cụ thể, rõ ràng, ổn định. Mỗi chương trình thường có thời điểm phát sóng cố định dựa trên mục đích và lượng khán giả xem chương trình.
Chương trình truyền hình giải trí, giáo dục Theo định nghĩa của từ điển tiếng Việt thì “ giải trí là làm cho trí óc thảnh thơi bằng các hoạt động nghỉ ngơi, vui chơi, thư giãn. Còn theo từ điển tiếng Việt do Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam và Viện ngôn ngữ học biên soạn thì: Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng 18 z nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra. Như vậy, chương trình truyền hình giải trí là cách phân loại về thể loại các chương trình truyền hình, nó làm rõ hơn các chức năng của chương trình. “Chương trình truyền hình giải trí có thể hiểu là sản phẩm báo chí có nội dung và hình thức ổn định, mang đặc trưng của truyền hình có nội dung và tính giải trí cao hướng đến mục tiêu giải tỏa và thư giãn trí óc cho khán giả.” Đây có thể nói là mục tiêu và cũng là định hướng phân loại chức năng dành cho mỗi chương trình truyền hình nói chung và cả kênh truyền hình nói riêng.
Đó cũng là lí do khiến cho Đài THVN đã có quyết định tách riêng Ban Thể thao - Giải trí và Thông tin kinh tế thành 2 đơn vị là Ban Sản xuất các chương trình Giải trí và Ban Sản xuất các chương trình Thể thao; Trung tâm sản xuất chương trình Giáo dục được hình thành trên nên móng của Ban Khoa giáo – Đài Truyền hình Việt Nam. Theo đó, chương trình truyền hình giáo dục, giải trí là các chương trình truyền hình được sản xuất với mục đích cơ bản là mang lại những thông tin có tính giải trí, thú vị, hấp dẫn, mang lại kiến thức, kỹ năng cũng nhưu tiếng cười và sự thư giãn cho mọi người. Nó bao gồm những chương trình tạp kĩ, điện ảnh, trò chơi truyền hình (trò chơi vận động, trò chơi kiến thức, trò chơi mang tính trình diễn, trò chơi may rủi…), chính luận, khoa giáo.