Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Lưu vực sông Thị Vải giữ vai trò địa kinh tế trọng điểm tại khu vực Đông Nam Bộ, chảy qua ranh giới hành chính của ba địa phương gồm tỉnh Đồng Nai, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và Thành phố Hồ Chí Minh. Toàn bộ lưu vực có diện tích 394 $\text{km}^2$ với chiều dài dòng chính xấp xỉ 46 km. Về mặt địa hình lòng dẫn, sông Thị Vải sở hữu độ sâu trung bình lớn từ 30 đến 50 m và bề rộng biến thiên từ 300 đến 800 m. Cấu trúc lòng sông rộng và sâu kết hợp với vị trí tiếp giáp trục Quốc lộ 51 tạo tiền đề hình thành hệ thống cảng biển nước sâu quy mô lớn phục vụ giao thương quốc tế và thúc đẩy mạng lưới các khu công nghiệp tập trung ven sông. Tuy nhiên, hoạt động vận tải hàng hải và sản xuất công nghiệp mật độ cao đã gây áp lực trực tiếp lên môi trường thủy vực tiếp nhận.

Trong lịch sử, sông Thị Vải từng là điểm nóng về ô nhiễm môi trường nước mặt nghiêm trọng, điển hình là sự việc vi phạm xả thải chưa qua xử lý của Công ty Cổ phần Hữu hạn Vedan Việt Nam bị phát hiện vào năm 2008. Sau giai đoạn trên, các cơ quan quản lý nhà nước đã siết chặt công tác giám sát, buộc các cơ sở sản xuất đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung, giúp chất lượng nước từng bước cải thiện. Mặc dù vậy, sự gia tăng nhanh chóng của các khu công nghiệp dọc tả ngạn và các bến cảng mới khiến nguy cơ xả trộm, xử lý đối phó hoặc buông lỏng vận hành hệ thống xử lý tái diễn. Một số đoạn sông xuất hiện dấu hiệu suy thoái chất lượng nước trở lại, đặt ra yêu cầu phải khảo sát thực tế để ghi nhận hiện trạng và theo dõi biến động hóa lý của dòng nước.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đồ án được xác định cụ thể như sau:

  1. Khảo sát thực địa và phân tích một số chỉ tiêu hóa lý đặc trưng trong môi trường nước mặt sông Thị Vải, bao gồm: pH, tổng chất rắn lơ lửng (TSS), nhu cầu oxy hóa học (COD), oxy hòa tan (DO), nhiệt độ và độ màu.
  2. So sánh, đối chiếu kết quả đo đạc thực nghiệm với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt QCVN 08-MT:2015/BTNMT (Cột B).
  3. Đánh giá diễn biến chất lượng nước theo không gian (giữa các vị trí dọc lưu vực từ thượng lưu xuống hạ lưu) và theo thời gian (so sánh số liệu thu thập năm 2017 với dữ liệu quan trắc trung bình các năm 2011 - 2013).
  4. Phân tích nguyên nhân biến động từ các nguồn xả thải ven bờ và đề xuất giải pháp kiểm soát ô nhiễm nước mặt trên lưu vực sông.

Đối tượng nghiên cứu là nguồn nước mặt chảy trong dòng chính sông Thị Vải. Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian trải dài từ điểm xả thải của Công ty Vedan (huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai) đến khu vực Cảng Cái Mép (huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) thông qua mạng lưới 7 trạm quan trắc cố định. Về mặt thời gian, dữ liệu thực nghiệm được thu thập trực tiếp qua 3 đợt lấy mẫu vào các ngày 06/03/2017, 06/04/2017 và 09/05/2017, kết hợp chuỗi dữ liệu quan trắc giai đoạn 2011 - 2013 để đối chiếu xu hướng dài hạn.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước

Đồ án vận dụng các khái niệm và nguyên lý động học môi trường nước để phân tích chất lượng thủy vực. Các chỉ tiêu hóa lý chính được tác giả tổng hợp và sử dụng để đánh giá bao gồm:

  • Nhiệt độ: Ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ các quá trình sinh hóa, khả năng hòa tan oxy và hoạt động của thủy sinh vật; nước thải làm mát công nghiệp có thể gây sốc nhiệt cục bộ.
  • Giá trị pH: Thể hiện nồng độ ion $\text{H}^+$, quyết định dạng tồn tại của kim loại, khí hòa tan và trạng thái cân bằng sinh hóa trong môi trường nước tự nhiên.
  • Tổng chất rắn lơ lửng (TSS): Đại diện cho các hạt cặn vô cơ và hữu cơ không tan ở trạng thái lơ lửng, làm giảm độ xuyên thấu ánh sáng, cản trở quang hợp và gây bồi lắng dòng dẫn.
  • Oxy hòa tan (DO): Nồng độ oxy tuân theo định luật Henry, dao động từ 14,6 mg/L ở 0°C đến khoảng 7 mg/L ở 35°C dưới áp suất 1 atm. DO là chỉ tiêu then chốt xác định trạng thái phân hủy sinh học hiếu khí hay kỵ khí của nguồn nước.
  • Nhu cầu oxy hóa học (COD): Lượng oxy tương đương cần thiết để oxy hóa toàn bộ các hợp chất hữu cơ bằng tác nhân oxy hóa hóa học mạnh ở nhiệt độ cao, phản ánh tải lượng chất hữu cơ bền vững và không phân hủy sinh học trong nước.
  • Quy chuẩn kỹ thuật áp dụng: Toàn bộ kết quả phân tích được đối chiếu trực tiếp với QCVN 08-MT:2015/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt, giới hạn quy định tại Cột B).

Phương pháp nghiên cứu và quy trình thực nghiệm

Nghiên cứu kết hợp giữa khảo sát thực địa, thu mẫu theo quy chuẩn và phân tích thực nghiệm tại phòng thí nghiệm chuyên ngành thuộc Nhà máy xử lý nước thải tập trung Khu công nghiệp Đông Xuyên (phường Rạch Dừa, thành phố Vũng Tàu).

Chỉ tiêu Phương pháp phân tích / Thiết bị sử dụng Quy trình thực hiện cụ thể
Lấy và bảo quản mẫu Xô nhựa 2 lít có gắn quả nặng thả sâu 1 m cách bờ 2 m; chai nhựa bảo quản 2 lít; thùng xốp ướp đá Múc nước, tráng rửa dụng cụ lấy mẫu và chai chứa bằng chính nước hiện trường, rót đầy chai, vặn chặt nắp, đặt ngay vào thùng xốp chứa đá lạnh vận chuyển về phòng thí nghiệm lưu trong tủ mát và phân tích sau 24 giờ.
Nhiệt độ Nhiệt kế thủy ngân có vạch chia độ Nhúng trực tiếp bầu thủy ngân xuống nước sông tại vị trí lấy mẫu, giữ yên trong 4 - 5 phút cho cột thủy ngân ổn định rồi đọc kết quả tại chỗ.
pH Phương pháp đo điện thế kế Sử dụng máy đo pH hoạt động theo nguyên tắc đo chênh lệch điện thế giữa điện cực chỉ thị $\text{H}^+$ và điện cực so sánh calomel.
DO Phương pháp điện cực oxy hòa tan (máy đo DO hiện trường) Đo trực tiếp tại hiện trường; dòng điện sinh ra tại điện cực tỷ lệ thuận với lượng oxy khuếch tán qua màng bán thấm từ khối nước.
TSS Phương pháp khối lượng (sấy khô) Lọc một thể tích mẫu nước xác định qua giấy lọc sợi thủy tinh tiêu chuẩn (đã sấy và cân khối lượng ban đầu), sấy khô giấy lọc chứa cặn ở nhiệt độ 103 - 105°C đến khối lượng không đổi, tính chênh lệch khối lượng cặn khô trên thể tích mẫu.
COD Phương pháp oxy hóa nhiệt đóng và đo quang phổ (thang đo 0 - 1500 $\text{mg/L O}_2$) Cho 2 mL mẫu nước (và 2 mL nước cất đối với mẫu trắng) vào ống nghiệm chứa sẵn hóa chất phản ứng chuyên dụng; vặn chặt nắp, lắc đảo đều; nung phá mẫu trong khối gia nhiệt ở nhiệt độ 148°C trong thời gian 2 giờ; để nguội về nhiệt độ phòng; đưa vào máy quang phổ, hiệu chuẩn điểm 0 bằng mẫu trắng và đọc giá trị hiển thị.
Độ màu Phương pháp so màu quang phổ Lọc mẫu nước qua phễu lọc chân không để loại bỏ tạp chất lơ lửng; đưa mẫu vào cuvet máy phân tích quang phổ, thiết lập chương trình số 204, chuẩn hóa máy với mẫu chuẩn (bấm ZERO) và tiến hành đo mẫu thực tế (bấm TEST).

Nguồn dữ liệu nghiên cứu

Dữ liệu sử dụng trong đồ án bao gồm hai nguồn chính:

  • Dữ liệu sơ cấp: Kết quả đo đạc tại hiện trường và phân tích thực nghiệm từ 3 đợt thu mẫu tháng 3, tháng 4 và tháng 5 năm 2017 của tác giả tại 7 vị trí quan trắc.
  • Dữ liệu thứ cấp: Số liệu quan trắc định kỳ giai đoạn 2011 - 2013 và năm 2017 do Trung tâm Quan trắc và Phân tích Môi trường tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cung cấp; chuỗi số liệu khí tượng - thủy văn từ Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ và Trung tâm Khí tượng Thủy văn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; tài liệu thủy văn từ Viện Nghiên cứu Khoa học Thủy lợi Nam Bộ.

Nội dung chính theo từng chương

Tổng quan chung và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nước mặt

Nội dung chương tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận về nguồn tiếp nhận và cơ chế lan truyền các chất gây ô nhiễm trong môi trường nước mặt. Tác giả phân chia các nguồn tác động tiêu cực đến lưu vực sông thành 4 nhóm chính:

  • Nguồn thải sinh hoạt: Khối lượng nước thải sinh hoạt đô thị phát sinh chiếm khoảng 80% lượng nước cấp sinh hoạt nhưng phần lớn xả trực tiếp vào hệ thống kênh rạch không qua xử lý; tình trạng lấn chiếm bờ sông gây ách tắc dòng chảy và ô nhiễm hữu cơ cục bộ.
  • Nguồn thải nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản: Hoạt động lạm dụng phân bón hóa học, hóa chất bảo vệ thực vật tại các lưu vực nội đồng kết hợp với việc phát triển lồng bè nuôi trồng thủy sản tự phát xả thức ăn dư thừa và phân thủy sản trực tiếp xuống lòng dẫn.
  • Nguồn thải công nghiệp: Nước thải từ các nhà máy, khu công nghiệp và làng nghề ven sông chứa các thông số COD, BOD, TSS, kim loại nặng, dầu mỡ và hợp chất hóa học vượt ngưỡng quy chuẩn; một số cơ sở không có hệ thống xử lý hoàn chỉnh hoặc chỉ xử lý cơ học sơ bộ.
  • Các nguồn tác động khác: Rò rỉ dầu khoáng từ phương tiện thủy, sự cố chìm tàu, nước rỉ rác từ các bãi chôn lấp tự phát, nước mưa chảy tràn bề mặt cuốn theo đất đá xói mòn và xác sinh vật phân hủy.

Đồng thời, chương này diễn giải chi tiết bản chất hóa lý của từng thông số đánh giá chất lượng nước (nhiệt độ, pH, TSS, DO, COD, BOD, các hợp chất nitơ dạng $\text{NH}_4^+$ và $\text{NO}_3^-$, các hợp chất photphat, vi sinh vật Coliform/E.Coli và các nhóm kim loại nặng độc hại).

Giới thiệu về lưu vực sông Thị Vải, vị trí và phương pháp quan trắc

Chương này mô tả điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng hạ lưu và thiết lập mạng lưới quan trắc thực địa. Về tự nhiên, lưu vực sông Thị Vải có địa hình thoải dần từ Đông Bắc (đỉnh núi Thị Vải cao 462 m) xuống Tây Nam (vùng đầm lầy ngập mặn). Khí hậu phân hóa thành hai mùa: mùa khô (tháng 11 đến tháng 4 năm sau) và mùa mưa (tháng 5 đến tháng 10). Nhiệt độ không khí trung bình năm tại huyện Tân Thành dao động từ 27,3 đến 27,9°C. Lượng mưa trung bình năm đạt từ 1500 đến 2000 mm, tập trung hơn 80% vào mùa mưa; lượng mưa cao nhất rơi vào tháng 9 và 10 (324 - 483 mm), thấp nhất vào tháng 2 và 3 (xấp xỉ 1 mm). Lượng bốc hơi cả năm vượt trên 1200 mm.

Hệ thống sông Thị Vải dài 46 km, nhận nước từ suối Bưng Môn và 4 phụ lưu chính gồm: sông Sóc (chiều dài 16 km, diện tích lưu vực 23 $\text{km}^2$), sông Quýt (dài 16 km, diện tích 48,6 $\text{km}^2$), sông Nước Lớn (dài 21 km, diện tích 96 $\text{km}^2$) và sông Chân (dài 24 km, diện tích 81,8 $\text{km}^2$). Thủy triều trên sông mang tính chất bán nhật triều không đều với biên độ triều dao động từ 1,4 đến 4,0 m, mực nước triều cường có thể đạt tới 400 cm. Tại khu vực Gò Dầu, lưu lượng dòng chảy vào cực đại đạt $-3,129\text{ m}^3\text{/s}$, dòng chảy ra cực đại đạt $+5,034\text{ m}^3\text{/s}$. Tại khu vực Cái Mép, dòng chảy vào cực đại đạt $-8,384\text{ m}^3\text{/s}$, dòng chảy ra cực đại đạt $+11,236\text{ m}^3\text{/s}$.

Về kinh tế - xã hội ven sông (số liệu năm 2016), tổng diện tích 3 huyện ven sông là 1.148,04 $\text{km}^2$ với dân số 1.171.171 người, trong đó cơ cấu kinh tế dịch chuyển mạnh sang công nghiệp (huyện Tân Thành có tỷ trọng công nghiệp chiếm 92%, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 31%/năm; huyện Long Thành có tỷ trọng công nghiệp chiếm 59,34%).

Tác giả đã thiết lập 7 vị trí thu mẫu cố định dọc theo dòng chính sông Thị Vải:

Ký hiệu Tên vị trí quan trắc Tọa độ địa lý Đặc điểm nguồn thải tiếp nhận xung quanh
S1 Gần điểm xả nước thải Công ty Vedan 10°39.629' N - 107°00.927' E Tỉnh Đồng Nai; gần kho than Fico Gò Dầu, Cảng Gò Dầu A; tiếp nhận nước thải sản xuất gia vị, tinh bột, khoáng chất mang tải lượng BOD, COD, TSS cao.
S2 Cách điểm xả Công ty Vedan 1 km về hạ lưu 10°39.358' N - 107°01.035' E Tỉnh Đồng Nai; gần Cảng Gò Dầu B2, Công ty Phân bón Việt Nhật, nhựa đường ADCo; tiếp nhận chất thải sản xuất phân bón, hóa chất, vật liệu xây dựng.
S3 Gần Nhà máy Nhiệt điện Phú Mỹ 1 10°28.481' N Thị trấn Phú Mỹ, BR-VT; gần Cảng quốc tế Sài Gòn Việt Nam, Xi măng Holcim, thép; tiếp nhận nguồn nước làm mát nhiệt độ cao và bụi khoáng.
S4 Cảng Phú Mỹ 1 (Cảng dầu Phú Mỹ) 10°35.262' N - 107°01.587' E Thị trấn Phú Mỹ, BR-VT; đối diện rừng ngập mặn; tập trung Công ty Tôn Hoa Sen, CS Wind, Bao bì Đạm Phú Mỹ; tiếp nhận nước thải cơ khí, kim loại, nhựa.
S5 Khu vực tiếp nhận nước làm mát NM Đạm Phú Mỹ 10°35.683' N - 107°01.619' E Thị trấn Phú Mỹ, BR-VT; tiếp giáp Nhà máy Đạm Phú Mỹ, Thép lá Phú Mỹ PFS; nước thải đặc trưng chứa hợp chất nitơ, nhiệt độ và hóa chất công nghiệp.
S6 Cảng Baria Serece E: 107°01.957' Thị trấn Phú Mỹ, BR-VT; khu vực bến cảng chuyên dụng bốc dỡ hàng rời; hoạt động tàu thuyền lớn làm xáo trộn bùn đáy, tăng độ đục và nguy cơ rò rỉ dầu mỡ.
S7 Hạ lưu sông Thị Vải (Cảng Cái Mép) Khu vực Cái Mép Tân Thành, BR-VT; Cảng container quốc tế Tân Cảng - Cái Mép, kho bãi logistics, hóa chất; mật độ tàu tải trọng lớn cao gây xáo động nước mạnh.

Kết quả đánh giá chất lượng nước lưu vực sông Thị Vải

Chương 3 trình bày các kết quả phân tích chỉ tiêu hóa lý tại 7 điểm quan trắc qua 3 đợt đo đạc năm 2017 và phân tích đối chiếu với giai đoạn 2011 - 2013:

  • Diễn biến giá trị pH: Số liệu quan trắc cho thấy giá trị pH tại tất cả 7 trạm quan trắc đều có xu hướng tăng vào đợt lấy mẫu tháng 4 và giảm nhẹ vào đợt lấy mẫu tháng 5/2017. Các vị trí ghi nhận mức pH cao tập trung tại những khu vực có hoạt động công nghiệp xi mạ và hóa chất ven bờ (S2, S4, S5, S7). Tất cả các giá trị đo đạc trong năm 2017 đều nằm trong ngưỡng giới hạn cho phép của QCVN 08-MT:2015/BTNMT (Cột B). Khi phân tích xu hướng dài hạn giai đoạn 2011 - 2017, độ kiềm của nước sông Thị Vải có sự gia tăng rõ rệt; ví dụ điển hình tại trạm S7 (Cảng Cái Mép), giá trị pH trung bình năm 2011 là 7,30 đã tăng lên 7,94 vào năm 2017. Sự gia tăng này phản ánh sự mở rộng của các tổ hợp nhà máy xi mạ, luyện kim và hóa chất trên lưu vực.
  • Nhiệt độ nước mặt: Nền nhiệt độ duy trì ổn định theo khí hậu nhiệt đới nhưng ghi nhận mức nhiệt độ nước tại trạm S3 (gần Nhà máy Nhiệt điện Phú Mỹ 1) và S5 (tiếp nhận nước xả làm mát Nhà máy Đạm Phú Mỹ) luôn cao hơn đáng kể so với các điểm quan trắc khác dọc dòng sông do chịu ảnh hưởng trực tiếp từ lưu lượng nước làm mát xả ra.
  • Hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS) và độ màu: TSS và độ màu tăng cao cục bộ tại các vị trí tiếp giáp hệ thống cảng biển nước sâu (S1, S4, S6, S7). Nguyên nhân được xác định là do chân vịt của các tàu biển có trọng tải lớn ra vào luồng hàng hải thường xuyên khuấy đảo lớp trầm tích bùn đáy, kết hợp với các hoạt động bốc dỡ nguyên liệu rời (than đá, phân bón, xi măng) tại Cảng Gò Dầu và Cảng Baria Serece.
  • Hàm lượng oxy hòa tan (DO) và nhu cầu oxy hóa học (COD): Nồng độ DO tại khu vực thượng lưu gần điểm xả Vedan (S1, S2) có dấu hiệu suy giảm vào các thời điểm triều kiệt kết hợp với tải lượng chất hữu cơ tiếp nhận từ khu dân cư và nhà máy chế biến, trong khi chỉ số COD có xu hướng tỷ lệ nghịch, thể hiện mức tích lũy chất hữu cơ nhân tạo. Tại các điểm hạ lưu như Cái Mép (S7), sự lưu thông dòng chảy với vận tốc dòng triều mạnh giúp cải thiện quá trình hòa tan oxy tự nhiên từ không khí.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính rút ra từ số liệu thực nghiệm

Nghiên cứu đã đưa ra các kết luận cụ thể dựa trên số liệu phân tích:

  • Chất lượng nước mặt sông Thị Vải tại thời điểm khảo sát năm 2017 nhìn chung đã phục hồi đáng kể so với giai đoạn xảy ra sự cố Vedan năm 2008. Các chỉ tiêu hóa lý cơ bản (đặc biệt là pH) tại 7 điểm quan trắc đều nằm trong giới hạn quy định tại Cột B của QCVN 08-MT:2015/BTNMT.
  • Ghi nhận xu thế biến đổi chất lượng nước theo chiều hướng kiềm hóa: Số liệu thực nghiệm chỉ ra độ pH trung bình tại hạ lưu sông (S7) tăng từ 7,30 (năm 2011) lên 7,94 (năm 2017).
  • Phân hóa chất lượng nước theo vùng chức năng kinh tế: Vùng thượng lưu (S1, S2) chịu tác động chính bởi các thông số ô nhiễm hữu cơ (COD, giảm DO) từ chế biến công nghiệp và sinh hoạt; vùng phụ cận nhà máy điện (S3, S5) bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm nhiệt từ nguồn nước làm mát; vùng cảng vụ hạ lưu (S4, S6, S7) ghi nhận giá trị TSS và độ đục tăng cao do giao thông thủy và bốc dỡ hàng rời.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

Trên cơ sở kết quả quan trắc, tác giả đề xuất một số giải pháp quản lý:

  • Tăng cường tần suất quan trắc định kỳ và lắp đặt hệ thống quan trắc tự động liên tục đối với các trạm xả thải công nghiệp lớn ven sông (đặc biệt là các nhà máy hóa chất, xi mạ, phân bón và luyện kim).
  • Kiểm soát nghiêm ngặt lưu lượng và nhiệt độ của dòng nước thải làm mát từ các nhà máy nhiệt điện và nhà máy đạm trước khi xả ra sông nhằm tránh gây sốc nhiệt hệ sinh thái thủy sinh.
  • Siết chặt quy định bảo vệ môi trường cảng biển, áp dụng biện pháp che chắn chống phát tán bụi cặn khi bốc dỡ hàng hóa tại Cảng Gò Dầu, Baria Serece; kiểm tra định kỳ hoạt động thu gom dầu thải, nước dằn tàu của các phương tiện hàng hải nhằm ngăn chặn sự cố tràn dầu cục bộ.

Đóng góp của đề tài

Đồ án đã cập nhật chuỗi dữ liệu thực nghiệm năm 2017 về 6 chỉ tiêu hóa lý tại 7 vị trí trọng yếu dọc sông Thị Vải, đồng thời thiết lập mối liên hệ định lượng giữa dữ liệu mới đo đạc với cơ sở dữ liệu quan trắc nhiều năm (2011 - 2013) của cơ quan chuyên trách địa phương. Đề tài cung cấp bức tranh hiện trạng thực tế về quá trình phục hồi và những nguy cơ ô nhiễm mới phát sinh do phát triển công nghiệp ven biển.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Do điều kiện thời gian và nguồn lực thực hiện đồ án tốt nghiệp đại học có giới hạn, tác giả mới chỉ trực tiếp lấy mẫu khảo sát được 03 đợt (tháng 3, tháng 4 và tháng 5 năm 2017). Đây là giai đoạn chuyển tiếp từ cuối mùa khô sang đầu mùa mưa, do đó dữ liệu thực nghiệm chưa bao quát toàn bộ chu kỳ thủy văn cả năm (thiếu các tháng giữa và cuối mùa mưa như tháng 9, tháng 10 - thời điểm lượng mưa đạt cực đại 324 - 483 mm). Ngoài ra, phòng thí nghiệm hỗ trợ tại KCN Đông Xuyên chỉ tập trung phân tích các chỉ tiêu hóa lý thông thường (pH, nhiệt độ, TSS, DO, COD, độ màu), chưa phân tích trực tiếp các chỉ tiêu vi sinh (Coliform), kim loại nặng và tổng dầu mỡ trên các mẫu tự thu thập.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Cần mở rộng quy mô lấy mẫu với tần suất dày hơn (tối thiểu 12 đợt/năm tương ứng 12 tháng) để đánh giá đầy đủ quy luật biến thiên theo hai mùa mưa - khô; bổ sung các chỉ tiêu phân tích chuyên sâu về kim loại nặng (As, Pb, Cd, Fe, Cr), dầu khoáng và vi sinh vật chỉ thị tại các khu vực nhạy cảm xung quanh bến cảng và miệng cống xả thải KCN.

Giá trị tham khảo

Đồ án là tài liệu tham khảo thực tế cho sinh viên và học viên chuyên ngành Công nghệ Môi trường, Kỹ thuật Môi trường và Công nghệ Kỹ thuật Hóa học khi thực hiện các đồ án quan trắc môi trường hoặc chuyên đề đánh giá chất lượng nước mặt vùng cửa sông chịu tác động bán nhật triều.

Nội dung đồ án có giá trị tham khảo ứng dụng tốt ở các phần:

  • Phương pháp luận lựa chọn vị trí quan trắc môi trường nước dựa trên quy hoạch cảng biển và đặc điểm xả thải công nghiệp ven sông.
  • Quy trình lấy mẫu hiện trường bằng xô trọng lượng thả chìm 1 m cách bờ 2 m và kỹ thuật bảo quản mẫu lạnh trong thùng xốp trước khi chuyển giao phòng thí nghiệm.
  • Quy trình thực hành chuẩn xác định COD bằng phương pháp phá mẫu nhiệt kín 148°C trong 2 giờ và kỹ thuật sấy cặn TSS ở 103 - 105°C trên giấy lọc sợi thủy tinh tại phòng thí nghiệm trạm xử lý nước thải tập trung.

Câu hỏi thường gặp

1. Các vị trí lấy mẫu quan trắc trong đồ án được bố trí dựa trên nguyên tắc nào dọc sông Thị Vải?
Tác giả bố trí 7 vị trí (từ S1 đến S7) phân bổ dọc theo dòng chính sông từ thượng lưu giáp tỉnh Đồng Nai xuống hạ lưu thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Các vị trí được chọn gắn liền với những điểm xả thải công nghiệp và cụm cảng trọng điểm: gần điểm xả Vedan (S1), hạ lưu điểm xả Vedan 1 km (S2), gần Nhà máy Nhiệt điện Phú Mỹ 1 (S3), Cảng Phú Mỹ 1 (S4), khu tiếp nhận nước làm mát Nhà máy Đạm Phú Mỹ (S5), Cảng Baria Serece (S6) và Cảng quốc tế Cái Mép (S7).

2. Tiêu chuẩn môi trường nào được sử dụng để đối chiếu kết quả phân tích chất lượng nước sông Thị Vải?
Đồ án sử dụng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt QCVN 08-MT:2015/BTNMT do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành, căn cứ trên ngưỡng giới hạn cho phép quy định tại Cột B để đánh giá mức độ an toàn môi trường của nước sông.

3. Quy trình thực nghiệm phân tích chỉ tiêu COD trong mẫu nước được tiến hành ra sao?
Quy trình thực hiện tại phòng thí nghiệm KCN Đông Xuyên theo thang đo 0 - 1500 $\text{mg/L O}_2$: Lấy 2 mL mẫu nước cho vào ống nghiệm chứa hóa chất phản ứng chuyên dụng (song song với 2 mL nước cất cho mẫu trắng blank); đóng chặt nắp và đảo trộn đều; đưa vào khối nung nhiệt phá mẫu ở 148°C trong 2 giờ; làm nguội ống nghiệm về nhiệt độ phòng; đặt mẫu trắng vào máy so quang hiệu chỉnh điểm 0 (ZERO), sau đó đặt ống nghiệm mẫu phân tích vào máy và bấm TEST để đọc kết quả nồng độ hiển thị.

4. Dữ liệu trong đồ án ghi nhận sự thay đổi giá trị pH như thế nào tại hạ lưu Cảng Cái Mép (trạm S7) qua các năm?
Giá trị pH tại trạm S7 có xu hướng gia tăng rõ rệt theo thời gian: từ mức trung bình 7,30 vào năm 2011 đã tăng lên 7,94 vào năm 2017. Sự gia tăng này cho thấy nguồn nước mặt có xu hướng kiềm hóa do ảnh hưởng tích tụ từ nước thải các ngành công nghiệp hóa chất và xi mạ ven lưu vực sông.

5. Chế độ thủy triều sông Thị Vải có đặc điểm gì và ảnh hưởng như thế nào đến khả năng tự làm sạch của sông?
Sông Thị Vải chịu chế độ bán nhật triều không đều với biên độ dao động từ 1,4 đến 4,0 m, những ngày triều cường dao động có thể đạt tới 400 cm. Vận tốc dòng chảy vào cực đại tại Cái Mép đạt $-59,4\text{ cm/s}$ và dòng chảy ra đạt $+90,8\text{ cm/s}$. Biên độ triều lớn và lưu lượng trao đổi nước mạnh mẽ với vịnh Gành Rái hỗ trợ quá trình xáo trộn, pha loãng chất ô nhiễm và khuếch tán oxy hòa tan, đặc biệt là ở khu vực hạ lưu.


Kết luận

Đồ án tốt nghiệp của sinh viên Dương Hữu Quốc đã khảo sát thực nghiệm 6 thông số hóa lý tại 7 vị trí trọng điểm trên sông Thị Vải vào các tháng 3, 4, 5 năm 2017 và đối chiếu với quy chuẩn QCVN 08-MT:2015/BTNMT (Cột B). Kết quả chỉ ra chất lượng nước sông nhìn chung đã phục hồi sau nhiều năm kiểm soát hậu sự cố Vedan, tuy nhiên xuất hiện xu hướng tăng pH và ô nhiễm cục bộ về nhiệt độ tại vùng xả nước làm mát, cùng với hiện tượng tăng TSS tại khu vực bến cảng. Công trình cung cấp nguồn số liệu khảo sát thực tế và quy trình thực nghiệm phòng thí nghiệm chuẩn xác, hỗ trợ công tác theo dõi và quản lý môi trường nước mặt tại vùng kinh tế cảng biển Đông Nam Bộ.