CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ IPTV 1.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ IPTV 1.1 Lịch sử IPTV Lịch sử về IPTVnăm 1994, World News Now của ABC đã có buổi trình chiếu truyền hình quảng bá qua mạng Internet đầu tiên, sử dụng phần mềm CU-SeeMe videoconferencing. Tổ chức liên quan đến IPTV đầu tiên xuất hiện là vào năm 1995, với sự thành lập Precept Software bởi Judith Estrin và Bill Carrico. Họ đã thiết kế và xây dựng một sản phẩm internet video gọi là "IP/TV". IP/TV là một MBONE tương thích với các ứng dụng trên Windows và Unix, thực hiện truyền âm thanh, hình ảnh thông qua cả giao thức unicast và IP multicast RTP/RTCP.
Phần mềm này được viết bởi Steve Casner, Karl Auerbach, và Cha Chee Kuan. Hệ thống này đã được Cisco Systems mua vào năm 1998 và Cisco đã giữ lại tên "IP/TV". AudioNet bắt đầu tiến hành nghiên cứu live webcasts với WFAA-TV trong tháng năm 1998, và KCTU-LP vào mùng 10 tháng 1 năm 1998. Kingston Communications, một nhà cung cấp dịch vụ viễn thông ở UK, triển khai KIT (Kingston Interactive Television), và IPTV qua mạng băng rộng DSL vào tháng 9 năm 1999 sau khi thử nghiệm dịch vụ TV và VoD.
Nhà cung cấp này đã thêm dịch vụ VoD vào hệ thống trong tháng 10 năm 2001 với hệ thống Yes TV. Kingston là một trong những công ty đầu tiên trên thế giới triển khai IPTV và IP VoD qua mạng ADSL. Hiện nay, IPTV đã phát triển hầu khắp các nơi trên thế giớ, từ châu Mỹ, châu Âu, châu Á. Nhất là tại châu Á, với các thị trường như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc và cả Việt Nam, một trong những nước đang đi đầu đã có nhiều công ty khai thác công nghệ IPTV, dịch vụ này ngày càng phát triển với lượng thuê bao ngày càng tăng.
Tại thời điểm này ở Việt Nam có ba nhà mạng cung cấp dịch vụ IPTV là www.vn - 1 sản phẩm của VNPT, hay www.vn của FPT và cuối cùng là sản phẩn IPTV của VTC.2 khái niệm IPVT Từ khi có khái niệm Internet, nhu cầu trong mọi ứng dụng của nó tăng lên từng ngày. Giống như mọi dịch vụ khác, truyền hình cũng ngày càng được quan tâm. Hiện nay, IPTV không còn là một khái niệm quá mới mẻ. SVTH: Dương Xuân Lai – Lớp : VT03A Trang 3 Tìm hiểu công nghệ IPTV và giải pháp triển khai tại VNPT Bắc Ninh IPTV là tên viết tắt tiếng Anh Internet Protocol Television-truyền hình qua giao thức Internet, là một loại công nghệ truyền hình mới, sử dụng mạng IP hiện thời để phân phối nội dung audio-video mức độ giải trí đến khách hàng.
Nó sử dụng các kĩ thuật nén video để làm giảm dữ liệu phát đến phía khách hàng. Sau đó, phương tiện số đã nén được chuyển đến khách hàng qua mạng IP tiêu chuẩn. Người sử dụng có thể thông qua máy vi tính (PC) hoặc máy thu hình cộng với hộp phối ghép set top box để sử dụng dịch vụ IPTV. Theo định nghĩa đưa ra bởi ITU-T Focus Group lần đầu họp tại Geneva (Thụy Sĩ) tháng 7 năm 2006 : IPTV là các dịch vụ đa phương tiện phân phối truyền hình / audio / text / đồ hoạ / dữ liệu trên các mạng dựa trên nền IP được quản lý để cung cấp chất lượng dịch vụ (QoS) / chất lượng trải nghiệm (QoE), tính bảo mật, tính tương tác và tính tin cậy.
Internet Mạng lõi Head end Set-top-box Triển khai kiểu truyền Triển khai IPTV thống Hình 1.1 Hai cách triển khai dịch vụ Thay vì nhận tín hiệu truyền hình theo kiểu truyền thống hoặc tín hiệu vệ tinh hoặc qua cáp, IPTV cho phép TV được kết nối trực tiếp vào đường mạng Internet của gia đình thu tín hiệu. Có thể thấy dịch vụ truyền hình đã được tích hợp trực tiếp với dịch vụ kết nối mạng Internet. Hiện có hai phương pháp chính thu tín hiệu truyền hình Internet. Thứ nhất, sử dụng máy tính kết nối với dịch vụ truyền hình IPTV để nhận tín hiệu sau đó chuyển SVTH: Dương Xuân Lai – Lớp : VT03A Trang 4 Tìm hiểu công nghệ IPTV và giải pháp triển khai tại VNPT Bắc Ninh đổi thành tín hiệu truyền hình truyền thống trên những chiếc TV chuẩn.
Thứ hai, sử dụng một bộ chuyển đổi tín hiệu (set top box - STB). Thực chất bộ chuyển đổi tín hiệu này cũng chỉ đóng vai trò như một chiếc PC như ở phương pháp thứ nhất. Cùng với sự phát triển của công nghệ chắc chắn sẽ có những sản phẩm TV có thể kết nối và thu nhận tín hiệu truyền hình trực tiếp từ đường truyền Internet.2 set-top-box Hiện nay, việc kết nối Internet không dây không còn là điều khó, do đó các nhà cung cấp dịch vụ hi vọng trong tương lai khách hàng có thể được hưởng những dịch vụ cung cấp bởi IPTV không dây. So sánh IPTV và các công nghệ truyền hình khác Truyền hình Truyền hình tương tự số Truyền hình Truyền hình Truyền hình Truyền hình Truyền hình quảng bá mặt cáp kỹ thuật cáp analog vệ tinh số mặt đất đất số IPTV Hình 1.3 Các công nghệ truyền hình SVTH: Dương Xuân Lai – Lớp : VT03A Trang 5 Tìm hiểu công nghệ IPTV và giải pháp triển khai tại VNPT Bắc Ninh 1.1 IPTV và các công nghệ truyền hình truyền thống a.
Truyền hình tương tự (analog): Tín hiệu hình ảnh và âm thanh được truyền đi là tín hiệu tương tự, truyền hình tương tự là công nghệ truyền hình xuất hiện sớm nhất và hiện nay vẫn đang được sử dụng rộng rãi. Các kênh truyền hình quảng bá như HTV7, HTV9, VTV1 và hầu hết các dịch vụ truyền hình cáp của Việt Nam hiện nay cũng sử dụng công nghệ tương tự. Truyền hình cáp tương tự và truyền hình quảng bá mặt đất nhìn chung là giống nhau về kỹ thuật, truyền hình cáp phát được nhiều kênh hơn do không bị hạn chế về băng tần. Truyền hình tương tự có ưu điểm là công nghệ đơn giản, phù hợp với đa số máy thu hình đang được sử dụng, sử dụng truyền hình tương tự, khách hàng không phải đầu tư thêm các bộ giải mã, tiết kiệm chi phí đầu tư.
Nhược điểm của truyền hình tương tự là rất tốn băng thông và chất lượng hình ảnh không cao. Do đó, hiện nay, các quốc gia trên thế giới đều đã có lộ trình kết thúc phát các kênh truyền hình quảng bá tương tự và chuyển sang truyền hình số nhằm tiết kiệm băng tần. Mỹ, Hà Lan, Thụy Điển, Thụy Sỹ… đã chính thức ngưng phát các kênh truyền hình tương tự trước 2010 và ở Việt Nam, chính phủ cũng đã đưa ra lộ trình xóa bỏ các kênh truyền hình tương tự trước 2020. Truyền hình số (digital): Tín hiệu âm thanh và hình ảnh truyền đi là tín hiệu số.
Tín hiệu truyền hình số có thể có những định dạng khác nhau cung cấp chất lượng khác nhau: SDTV (Standard Definition Television ), EDTV (Enchanted Definition Television) và HDTV (High Definition Television). Truyền hình số được triển khai dựa trên nhiều công nghệ khác nhau: truyền hình cáp, truyền hình vệ tinh, truyền hình số mặt đất và IPTV. Truyền hình vệ tinh và truyền hình số mặt đất dựa vào các công nghệ viba số để truyền tín hiệu hình ảnh và âm thanh. Để thu được các kênh truyền hình số, đòi hỏi TV của khách hàng cần phải có bộ giải mã tín hiệu số.
Điều này làm tăng chi phí đầu tư phía khách hàng, do đó, dù có nhiều ưu thế về chất lượng và tiết kiệm được băng thông, truyền hình số không thể tự nó thay thế hoàn toàn truyền hình tương tự. Truyền hình cáp digital (DVB-C Digital Video Broadcast over Cable) và IPTV đều là truyền hình số triển khai dựa vào mạng có dây ( chỉ xét trong thời điểm hiện tại). SVTH: Dương Xuân Lai – Lớp : VT03A Trang 6 Tìm hiểu công nghệ IPTV và giải pháp triển khai tại VNPT Bắc Ninh So sánh DVB-C và IPTV: Bảng 1.1 So sánh IPTV và truyền hình cáp Truyền hình cáp IPTV + Triển khai trên mạng cáp đồng + Triển khai trên mạng băng rộng có trục hoặc cáp quang. thể truy nhập bằng cáp quang hay cáp + Tất cả các kênh truyền hình đồng đồng.
thời được phát đi trong toàn bộ mạng + Truyền theo cơ chế multicast, chỉ cáp. Người xem có thể chuyển kênh đưa luồng dữ liệu đến các đầu cuối có ngay (vì tín hiệu đã có sẵn). Truyền yêu cầu có thể tiết kiệm được băng hình cáp rất tốn băng thông vì sử dụng thông, tăng chất lượng và số lượng cơ chế broadcast, do đó, số kênh có thể kênh có thể phát trên mạng. phát cũng bị hạn chế.
+ Có thể truyền dữ liệu dựa vào + IPTV được cung cấp trên hạ tầng DOCSIS (Data Over Cable Service mạng băng rộng truyền dữ liệu do đó Interface Specification). DOCSIS là hoàn toàn có thể đảm bảo truyền dữ một chuẩn viễn thông quốc tế cho liệu dựa trên mạng IP và còn có thể phép truyền dữ liệu tốc độ cao qua triển khai các dịch vụ khác: VOD, mạng truyền hình cáp có sẵn, DOCSIS VoIP… cũng cho phép cung cấp dịch vụ VoIP. Tuy nhiên, do đặc tính có tốc độ phụ thuộc băng thông, mà băng thông trong truyền hình cáp còn lại rất hạn hẹp (do broadcast) vì vậy, tốc độ truyền dữ liệu thường không cao.2 IPTV và Internet TV Mạng IP được dùng cho IPTV đôi khi được hiểu là bao gồm cả mạng Internet mở (Open Internet) và mạng Internet được quản lý (Managed Internet), tuy nhiên, trong đa số định nghĩa, IPTV được hiểu là truyền hình qua mạng Internet được quản lý. Internet TV và IPTV đều là truyền hình được truyền qua mạng IP, dựa vào các giao thức truyền video trong mạng IP, cùng có khả năng cung cấp các dịch vụ giống nhau, đều có khả năng tương tác… SVTH: Dương Xuân Lai – Lớp : VT03A Trang 7 Tìm hiểu công nghệ IPTV và giải pháp triển khai tại VNPT Bắc Ninh So sánh Internet TV với IPTV: Bảng 1.2 So sánh IPTV và Internet TV Open Internet TV ( Internet TV) Managed Internet TV (IPTV) + Không được bảo đảm về chất + Được đảm bảo chất lượng dịch vụ lượng dịch vụ (QoS).
+ Thông thường chạy trên cơ sở các + Có thể xem IPTV trên TV hoặc PC. ứng dụng của PC. + Không có khả năng cạnh tranh với + Có khả năng cạnh tranh với truyền truyền hình truyền thống. hình truyền thống và hoàn toàn chiếm + Ưu thế của Internet TV là có tính ưu thế.
linh hoạt và không bị giới hạn bởi địa + Giới hạn trong phạm vi khu vực của lý (vì mạng Internet mở vốn không bị ISP, nội dung do nhà cung cấp dịch vụ giới hạn về địa lý), có nội dung phong cung cấp (thường không thể phong phú, người xem TV có thể xem các phú như mạng Internet mở). kênh trên phạm vi toàn cầu.