Chương 1: Cở sở hình thành văn hoá khu vực Đông Nam Á Chương 2: Một số vấn đề và nguyên tắc hợp tác văn hoá Việt Nam- ASEAN những năm đầu thế kỷ 21 Chương 3: Hợp tác văn hoá Việt Nam-ASEAN từ 1995 đến nay Luận văn thạc sỹ Quan hệ Quốc tế Phạm Đình Thắng ¬. CƠ SỞ HÌNH THÀNH VAN HOA KHU VUC ĐÔNG NAM A 1, Khái niệm văn hóa Trong tiếng Việt, văn hoá là danh từ có một nội hàm ngữ nghĩa khá phong phú và phức tạp. Người ta có thể hiểu văn hoá như một hoạt động sáng tạo của con người, nhưng cũng có thể hiểu văn hoá như là lối sống, thái độ ứng xử, lại cũng có thể hiểu văn hoá như trình độ học van. Ở phương Tây, từ văn hoá xuất hiện khá sớm trong đời sống ngôn ngữ.
Nhà ngôn ngữ học người Đức W. Wundt cho rằng, Văn hoá là một từ có nguồn gốcLatinh: Colere, sau thành Cultura, nghĩa là cay cấy, gico trong. Tu nghia nay, sau do phat trién rộng hon là sự hoàn thiện, vun trồng tinh than, tri tuệ. Ở Trung Quốc, từ văn hoá được cho là xuất hiện từ thoi Tây Hán (206 trước công nguyên - 25 năm sau công nguyên).
Theo đó, sách Thuyết Uyên bài Chỉ Vũ có viết: “Thánh nhân cai trị thiên hạ, trước dùng văn đức rồi sau mới dùng vũ lực. Phàm dùng vũ lực là để đối phó kẻ bất phục tùng, dùng văn hoá không thay đôi được thì sau đó sẽ chinh phạt”. Theo cách hiểu này thì văn hoá là một cách giáo hoá đối lập với vũ lực. Mặc dù có mặt sớm trong đời sống ngôn ngữ phương Tây cũng như phương Đông nhưng phải đến thế kỷ XVIII, từ văn hoá mới được sử dụng như thuật ngữ khoa học.
Năm 1774, từ này mới được xuất hiện trong thư tịch và năm 1783 từ điển ở Đức ghi có từ này. Nhiều giả thiết cho rằng, người đầu tiên sử dụng từ văn hoá trong khoa học là Pufendorf (Đức). Ông cho rằng, văn hoá là toàn bộ những gì được tạo ra do hoạt động xã hội, đối lập với trạng thái tự nhiên. Sau này, nhà triết học Herder (1744 - 1803), cho rằng: Văn hoá là sự hình thành lần thứ hai của con người.
Theo ông, lần thứ nhất, con người xuất hiện với tư cách là một thực thê sinh vật tự nhiên; lần thứ hai hình thành như một thực thé xã hội, tức là một nhân cách văn hoá. Luận văn thạc sỹ Quan hệ Quốc tế Phạm Đình Thắng Đến năm 1855, học giả Klemm công bố công trình Khoa học chung về văn hoá, người ta mới coi khoa học về văn hoá hình thành và thực sự phát triển.Tylor công bố công trình Văn hoá nguyên thuỷ ở Lôn Đôn (Anh). Từ sự kiện này, ngành khoa học về văn hoá mới chính thức được khang định bởi E.Tylor đã xác lập được đối tượng nghiên cứu của ngành văn hoá học. Ông đã đưa ra định nghĩa văn hóa.
Theo ông, văn hóa la một phức thể bao gồm kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và mọi khả năng, thói quen mà con người với tư cách là thành viên xã hội, đạt được. Từ đây, khái niệm văn hoá được nhiều người đề cập. Năm 1952, trong công trình Văn hoá: Tổng luận phê phán các quan niệm và định nghĩa (Culture: A critical review of Concepts and definitions), hai nhà khoa học Mỹ là A.Kluckhohn đã thống kê va phân tích tới 164 định nghĩa về văn hoá, trong đó có 7 định nghĩa ra đời từ năm 1919 đến 1952. Năm 1967, nhà văn hoá học người Pháp Abraham Moles lại đưa ra 250 định nghĩa.
Tại Hội nghị thế giới về chính sách văn hoá vì sự phát triển (ở Mehico) đã thông qua Tuyên bố ngày 6/8/1982 về chính sách văn hoá: Theo nghĩa rộng, ngày nay văn hoá có thé được coi là toàn bộ các đặc tinh đặc biệt về tâm hồn, vật chất, trí tuệ và tình cảm đặc trưng cho một xã hội hay một nhóm xã hội. Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật và văn học, mà cả lối sống, các quyền cơ bản của nhân loại, các hệ thống giá trị, truyền thống và tín ngưỡng. Việc có quá nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa là do cách tiếp cận các nhà khoa học. Căn cứ vào cách tiếp cận, GS.TS Hoàng Vinh đã quy về 12 nhóm định nghĩa về văn hoá.
PGS, TSKH Trần Ngọc Thêm chia ra hai loại: Định nghĩa miêu tả và định nghĩa nêu đặc trưng. Trong loại định nghĩa nêu đặc trưng, ông lại chia ra 3 khuynh hướng: khuynh hướng coi văn hoá là kết quả (sản phẩm) nhất định; văn hoá như những quá trình; văn hoá như những quan hệ, những cấu trúc. Nhìn chung, mọi định nghĩa đều thống nhất văn hoá có các đặc điêm sau: Luận văn thạc sỹ Quan hệ Quốc tế Phạm Đình Thắng - Văn hoá là sáng tạo của con người, thuộc về con người, những gì không do con người làm nên không thuộc về khái niệm văn hoá. Từ đó, văn hoá là đặc trưng căn bản phân biệt con người với động vật, đồng thời cũng là tiêu chí căn bản phân biệt sản phẩm nhân tạo với sản phẩm tự nhiên.
Văn hoá xuất hiện do sự thích nghi một cách chủ động và có ý thức của con người với tự nhiên, nên văn hoá cũng là kết quả của sự thích nghi ấy. - Sự thích nghi này là có ý thức và chủ động nên có sáng tạo, phù hợp với giá trị chân - thiện - mỹ. - Văn hoá bao gồm cả những sản phẩm vật chat và tinh than. - Văn hoá không chỉ có nghĩa là văn học nghệ thuật như thông thường.
Theo đó, văn học nghệ thuật là bộ phận cao nhất trong lĩnh vực văn hoá. Đông Nam Á là một khu vực có yếu tô địa ly đặc biệt. Khu vực này vừa có hải đảo, vừa có lục địa, nằm rải một vòng nhưng lọt giữa hai trung tâm văn hóa lớn là Ấn Độ và Trung Quốc. Trước khi có sự tiếp biến văn hóa với Ấn Độ và Trung Quốc, khu vực này đã có nền văn hóa riêng, đậm nét ban dia.
Những yếu tố địa lý quan trọng ở Đông Nam Á: Ở Đông Nam Á có những yếu tố địa lý quan trọng là đất, sông, biển, gió mùa, khí hậu nhiệt đới. Năm yếu tố này tạo nên đặc điểm chung của văn hoá vùng. Dat dai ở Đông Nam A do có nhiều mưa, nang nên thích hợp với nông nghiệp, đặc biệt là cây lúa nước. Vùng đất ở khu vực này không có đồng cỏ nên chỉ có chăn nuôi nhỏ, ngoài ra chủ yếu là đất đai dé trồng trọt.
Sông nước có một vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống của cư dân Đông Nam Á. Con người thường sinh sống gần sông suối vì đây là nơi có thê trồng trọt, canh tác. Hai bên các con sông lớn thường phát hiện thấy các di chỉ của người xưa. Sông cũng là đường giao thông quan trọng ở Đông Nam Á và thuyền là phương tiện đi lại chủ yếu của cư dân.
Lich sử cho thấy, các cư dan Đông Nam Á không biết tạo ra bánh xe [4, tr. Luận văn thạc sỹ Quan hệ Quốc tế Phạm Đình Thắng Biển ở Đông Nam Á rộng nên các cư dân ven biển đều thạo nghề đi biển. Cu dan Đông Nam A vùng biển có diện phân bố rộng lớn, và sớm có điều kiện tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế trên biển giữa Đông- Tây. Ở Đông NamA chỉ duy nhất có nước Lào là không có biển.
Gió mùa là loại thôi theo hai chiều ngược nhau. Gió này cũng tạo thành mùa mưa tập trung, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Điều quan trọng nữa là, gió mùa tạo nên sức day cho thuyền buồm đi lại theo mùa trên biển và tao thành hai mùa mưa, nắng rõ rệt ở Đông Nam A. Điều nổi bật nhất của gió mùa là một trong những yếu tố tạo nên sự tiếp biến văn hóa trong khu vực.
Điều kiện nóng âm, mưa nhiều và gió mùa là hằng số tự nhiên của văn hóa Đông Nam Á và chính nó đã góp phần tạo nên đặc trưng văn hóa khu vực nay-Nén văn minh thực vật hay nền văn minh lúa nước. 2, Văn hóa bản địa Đông Nam Á Văn hóa bản địa là văn hóa có nguồn gốc tại chỗ, do cư dân tại chỗ sáng tạo ra. Văn hóa Đông Nam A tiếp xúc sớm nhất với văn hóa An Độ và Trung Hoa vào thời kỳ đầu Công nguyên. Phần lớn các nước Đông Nam Á chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, riêng Việt Nam chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa.
Căn cứ vào thời điểm lịch sử, nhiều học giả đã xem văn hóa bản địa Đông Nam Á là văn hóa trước Ấn trước Hoa. Trong xu hướng toàn cầu hóa, sự giao thoa văn hóa rộng rãi đã có lúc, những người trẻ khó nhận ra những nét đặc trưng của văn hóa bản địa Đông Nam Á. Các nhà khoa học thường dựa vào khảo cô, văn bản và tư liệu cổ, những tàn tích và di sản dé lai.dé nhận biết văn hóa bản địa: Khảo cổ: Qua khai quật những di sản trong lòng đất, các nhà khoa học có thé biết được văn hóa cô xưa của Đông Nam Á trước Ấn, trước Hoa. Ở Việt Nam, các hiện vật đồ đồng của nền văn hóa Đông Sơn, những mộ chum của nên văn hóa Sa Huỳnh ở miên Trung Việt Nam, hay những hiện vật của Luận văn thạc sỹ Quan hệ Quốc tế Phạm Đình Thắng nền văn hóa Đồng Nai.
O Thái Lan, từ khảo cô, các nhà khoa học đã xác thực được nền văn hóa trồng trọt trước lúa ở Hang Tham Phi, và nền văn hóa lúa nước ở Non Nốc Tha (Đồi Gà Gô). Ở Campuchia, khảo cổ phát hiện di chỉ Samrong Sen có nhiều khối vỏ ốc, nhiều vật dụng làm băng tay, mảnh chén, đĩa. Những phát hiện khảo cô gần đây, cho thấy: Niên đại sớm của đồ gốm từ 13.800 năm trước Công nguyên; trồng lúa là: 3.500 năm trước Công nguyên; luyện đồng là 2.700 năm trước Công nguyên; luyện sắt là 1.300 năm trước Công nguyên [4, tr. Tw liệu cổ: Trung Quốc là nước có nhiều tài liệu cô viết về Đông Nam Á.
Theo tài liệu của Trung Quốc để lại, trong sớ của Tiết Tôn ở đời Tam Quốc (Tam Quốc chí, quyên 53) có ghi về một tập tục của người Việt cổ: Khi mới thuộc Hán, người Giao Chỉ ở huyện Mê Linh, Cửu Chân và Đô Lung nếu anh chết thì em lay chi dâu [4, tr. Tai liệu của một sé hoc gia Chau Au cũng nhắc tới việc, dân Van Lang trước thé kỷ thứ II va thứ III còn sống trong chế độ gia đình mẫu hệ.