Chương 1: Tổng quan về hoạt động cung ứng dịch vụ của NHTM trong phát hành trái phiếu riêng lẻ của doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam. Chương 2: Thực trạng pháp luật về hoạt động cung ứng dịch vụ của NHTM trong phát hành trái phiếu riêng lẻ của doanh nghiệp. Chương 3: Phƣơng hƣớng hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động cung ứng dịch vụ của NHTM trong phát hành trái phiếu riêng lẻ cho doanh nghiệp. 11 z Chƣơng 1 TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI TRONG PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU RIÊNG LẺ CỦA DOANH NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1.
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ CỦA NHTM 1. Khái niệm về dịch vụ NHTM Dịch vụ ngân hàng là một trong những ngành dịch vụ quan trọng, nhạy cảm, có ảnh hƣởng to lớn đến sự phát triển của nền kinh tế và sự thành công của tiến trình hội nhập. Để khai thác triệt để những lợi ích kinh tế từ dịch vụ này, chúng ta cần hiểu “Thế nào là dịch vụ ngân hàng?” và cụ thể hơn “Thế nào là dịch vụ NHTM?” Tổ chức thƣơng mại thế giới (WTO) đã đƣa ra khái niệm về Thị trƣờng dịch vụ tài chính nhằm hình thành các quy tắc ứng xử giữa các nƣớc thành viên WTO trong hoạt động thƣơng mại dịch vụ. Theo WTO “Một dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính, được một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp.
Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan đến bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ bảo hiểm)” [34]. Nhƣ vậy, dịch vụ ngân hàng đƣợc xem là một bộ phận cấu thành trong dịch vụ tài chính nói chung. Quan niệm này hoàn toàn hợp lý khi chúng ta luôn coi NHTM là một tổ chức tài chính trung gian mà hoạt động chủ yếu của NHTM là tiếp nhận các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu, làm phƣơng tiện thanh toán và cung cấp các dịch vụ cho doanh nghiệp, tƣ nhân, hộ gia đình, các nhà xuất-nhập khẩu. Đa số các nhà kinh tế học đều cho rằng NHTM là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, hoạt động và kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ.
NHTM giống nhƣ các 12 z tổ chức kinh doanh khác hoạt động vì mục đích thu lợi nhuận nhƣng là tổ chức đặc biệt vì đối tƣợng kinh doanh là tiền tệ, hoạt động tín dụng là đặc trƣng đƣợc thực hiện chủ yếu bằng cách thu hút vốn tiền tệ trong xã hội để cho vay. Luật Ngân hàng Pháp năm 1941 định nghĩa: “Ngân hàng được coi là những xí nghiệp hay cơ sở hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ, chiết khấu hay tài chính” [11]. Ở nƣớc ta trong giai đoạn chuyển đổi sang kinh tế thị trƣờng có sự quản lý của Nhà nƣớc, pháp lệnh Ngân hàng, Hợp Tác Xã Tín dụng và Công ty Tài chính đã xác định “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán” [9, Khoản 1 Điều 1]. Nhìn chung, ngay từ những ngày đầu tiên, pháp lệnh Ngân hàng đã xác định đƣợc chức năng hoạt động chính của Ngân hàng bao gồm các nghiệp vụ nhận tiền gửi, cho vay, chiết khấu và làm phƣơng tiện thanh toán.
Tuy nhiên, đây mới chỉ là những khái niệm sơ khai, mang tính chất liệt kê chƣa đầy đủ về các dịch vụ mà Ngân hàng cung cấp. Đến nay, khi các dịch vụ ngân hàng phát sinh ra nhiều biến thể, chúng ta lại có sự lẫn lộn ngay trong quá trình thực hiện các nghiệp vụ và phát sinh nhiều quan điểm về dịch vụ ngân hàng. Có quan niệm cho rằng: dịch vụ ngân hàng không thuộc phạm vi kinh doanh tiền tệ và các hoạt động nghiệp vụ theo chức năng của một trung gian tài chính (cho vay, huy động tiền gửi.) chỉ những hoạt động không thuộc nội dung nói trên mới gọi là dịch vụ ngân hàng. Quan điểm này phân định rõ hoạt động tín dụng, một hoạt động truyền thống và chủ yếu trong thời gian qua của các NHTM Việt Nam, với hoạt động dịch vụ, một hoạt động mới bắt đầu phát triển ở nƣớc ta.
Sự phân định nhƣ vậy trong xu thế hội nhập và mở cửa thị trƣờng dịch vụ tài chính hiện nay cho phép ngân hàng thực thi chiến lƣợc tập trung 13 z đa dạng hoá, phát triển và nâng cao hiệu quả của các hoạt động phi tín dụng. Một số khác cho rằng tất cả hoạt động ngân hàng phục vụ cho doanh nghiệp và công chúng là dịch vụ ngân hàng. Ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Quan niệm này phù hợp với thông lệ quốc tế, phù hợp với cách phân loại các phân ngành dịch vụ trong dự thảo Hiệp định WTO mà Việt Nam cam kết, đàm phán trong quá trình gia nhập, phù hợp với nội dung Hiệp định thƣơng mại Việt - Mỹ.
Trong phân bổ các ngành kinh tế của Tổng cục Thống kê Việt Nam, Ngân hàng là ngành đƣợc phân bổ trong lĩnh vực dịch vụ. Thực tiễn gần đây khái niệm về dịch vụ ngân hàng phù hợp với thông lệ quốc tế đang trở nên phổ biến trên các diễn đàn, trong giới nghiên cứu và các cơ quan lập chính sách. Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, hoạt động của NHTM cũng từng bƣớc đƣợc củng cố và hoàn thiện, chuyển hoá dần theo hƣớng đa năng. Hiện nay, các NHTM đang thực hiện đa dạng các sản phẩm tín dụng, nhƣ: tín dụng cho vay mua nhà, cho vay mua ô tô, cho vay tiền đi du học, cho vay tiêu dùng qua thẻ tín dụng, tín dụng thuê mua, tín dụng chữa bệnh, tín dụng ngày cƣới, tín dụng sửa chữa nhà ở ….cũng nhƣ các dịch vụ ngân hàng mới, nhƣ: nghiệp vụ thẻ, kinh doanh ngoại hối, đầu tƣ trên thị trƣờng tiền gửi, chiết khấu, chuyển tiền, kiều hối, tƣ vấn,… Luật các Tổ chức Tín dụng định nghĩa “Hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán” [24].
Nhìn chung, bản chất của NHTM vẫn không có gì thay đổi sau nhiều năm hình thành và phát triển, có chăng chỉ là sự đa dạng hóa các loại hình dịch vụ mà NHTM cung cấp. Nếu đứng trên góc độ thoả mãn nhu cầu khách hàng thì có thể hiểu sản phẩm dịch vụ ngân hàng là tập hợp những đặc điểm, tính năng, công dụng do ngân hàng tạo ra nhằm thoả mãn nhu cầu và mong muốn nhất định của khách hàng trên thị trƣờng tài chính. Theo Luật các tổ chức tín dụng 14 z thì cụm từ: “hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng” đƣợc bao hàm cả 3 nội dung: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán. Cụ thể hơn dịch vụ ngân hàng đƣợc hiểu là các nghiệp vụ ngân hàng về vốn, tiền tệ, thanh toán,… mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng đáp ứng nhu cầu kinh doanh, sinh lời, sinh hoạt cuộc sống, cất trữ tài sản,… và ngân hàng thu chênh lệch lãi suất, tỷ giá hay thu phí thông qua dịch vụ ấy.
Trong xu hƣớng phát triển ngân hàng tại các nền kinh tế phát triển hiện nay, ngân hàng đƣợc coi nhƣ một siêu thị dịch vụ, một bách hoá tài chính với hàng trăm, thậm chí hàng nghìn dịch vụ khác nhau tuỳ theo cách phân loại và tuỳ theo trình độ phát triển của ngân hàng ở mỗi quốc gia. Đặc điểm dịch vụ NHTM a. Về chủ thể Chỉ các NHTM với những ƣu thế riêng mới có thể thực hiện một cách đầy đủ và trọn vẹn các dịch vụ tài chính, ngân hàng. Là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, hoạt động và kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, NHTM là loại hình hoạt động kinh doanh có điều kiện, chỉ khi nào NHTM thoả mãn đầy đủ những điều kiện khắt khe do pháp luật quy định (về vốn pháp định, phƣơng án kinh doanh.) thì mới đƣợc phép hoạt động trên thị trƣờng.
Đây đƣợc coi là một đặc điểm cốt lõi trong việc cung ứng các dịch vụ ngân hàng. Không một tổ chức kinh tế nào - ngoài ngân hàng - có đủ điều kiện về vốn, về cơ cấu tổ chức, cơ cấu tài chính… và đƣợc pháp luật cho phép cung ứng các dịch vụ ngân hàng một cách chính thống và đầy đủ. Lý do pháp luật quy định cụ thể và khắt khe về chủ thể thực hiện dịch vụ ngân hàng là vì tính rủi ro cao trong hoạt động ngân hàng. Với vai trò trung gian về tài chính, các ngân hàng nắm trong tay lƣợng tài sản khổng lồ của xã hội, tạo ra tính thanh khoản tiền tệ, giúp huy động nguồn vốn nhàn rỗi và đầu tƣ vào nhiều mục đích khác nhau.
Để ngƣời dân có thể đặt niềm tin vào các chủ thể này, pháp luật cần tạo ra một hành lang pháp lý vững chắc, mà đầu tiên là phải quy định các điều kiện 15 z đối với chủ thể thực hiện dịch vụ. Căn cứ theo các tiêu chuẩn này, các NHTM ra đời và tham gia vào thị trƣờng nhƣ một cam kết của chính cơ quan công quyền về tính minh bạch và điều kiện đảm bảo đối với xã hội. Về bản chất NHTM giống nhƣ các tổ chức kinh doanh khác là hoạt động vì mục đích thu lợi nhuận nhƣng là tổ chức đặc biệt vì đối tƣợng kinh doanh là tiền tệ, hoạt động tín dụng là đặc trƣng đƣợc thực hiện chủ yếu bằng cách thu hút vốn tiền tệ trong xã hội để cho vay. Nguồn vốn phục vụ hoạt động kinh doanh của NHTM phần lớn là tiền gửi của các tổ chức kinh tế trong nền kinh tế.
Đặc điểm nổi bật là nguồn vốn sở hữu của NHTM chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tổng nguồn vốn hoạt động kinh doanh của NHTM. Trong khi đó các loại hình kinh tế khác lại sử dụng chủ yếu nguồn vồn sở hữu vào các hoạt động kinh doanh. Sự khác biệt của NHTM với các định chế tài chính khác là NHTM có quyền huy động tiền gửi trong nền kinh tế khi cần để tiến hành các hoạt động kinh doanh.