Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay doanh nghiệp siêu nhỏ tại ngân hàng thương mại 5 Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp siêu nhỏ tại ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - chi nhánh Phú Xuân. Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp siêu nhỏ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - chi nhánh Phú Xuân. 6 Chƣơng 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP SIÊU NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về ngân hàng thƣơng mại 1.
Khái niệm Ngân hàng thương mại là định chế trung gian tài chính tiêu biểu, đặc trưng bởi hình thức hoạt động kinh doanh của nó. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại chủ yếu và thường xuyên là thu hút vốn thông qua những khoản tiền gửi phát séc, tiền gửi tiết kiệm và những khoản tiền gửi khác từ các chủ thể trong nền kinh tế. Sau đó, ngân hàng sử dụng nguồn vốn này để cấp tín dụng và thực hiện các hoạt động đầu tư tài chính trên thị trường; đồng thời, trong quá trình kinh doanh ngân hàng thương mại còn thực hiện cung ứng các dịch vụ trung gian thanh toán. Do vậy, ngân hàng thương mại đóng một vai trò trong việc khơi thông các nguồn vốn tiết kiệm đáp ứng cho các nhu cầu đầu tư sinh lợi, góp phần đảm bảo cho nền kinh tế vận động nhịp nhàng, hiệu quả.
Ở Việt Nam cũng như các nước khác, khi định nghĩa về ngân hàng thương mại đều có điểm chung là dựa trên chức năng và phương thức hoạt động. Ở Pháp: Ngân hàng thương mại là một xí nghiệp hay cơ sở mà nghiệp vụ thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác hay dưới hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính. Ở Mỹ: Ngân hàng thương mại là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Ở Ấn Độ: Ngân hàng thương mại là cơ sở nhận các khoản ký thác để cho vay hay tài trợ các khoản đầu tư.
Theo điều 20 khoản 2 và 7 Luật các tổ chức tín dụng (12/12/1997): “ Ngân hàng thương mại là một tổ chức tín dụng thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung chủ yếu và thường 7 xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung cấp các dịch vụ thanh toán”. Chức năng Chức năng trung gian tín dụng Thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là “cầu nối” giữa người dư thừa vốn và người cần vốn. Gửi tiền Ngân Cho vay Ngƣời dƣ hàng Ngƣời thừa vốn thƣơng cần vốn Ủy thác mại Đầu tƣ đầu tƣ Sơ đồ 1.
Sơ đồ chức năng trung gian tín dụng của NHTM Thông qua việc huy động vốn các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, NHTM hình thành nên quỹ cho vay để cung cấp tín dụng cho nền kinh tế. Với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay vừa đóng vai trò là người cho vay. Với chức năng trung gian tín dụng, NHTM đã góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia, bao gồm người gửi tiền, ngân hàng, và người đi vay, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. - Đối với người gửi tiền, họ thu được lợi từ khoản vốn tạm thời nhàn rỗi của mình dưới hình thức lãi tiền gửi mà ngân hàng trả cho họ.
- Đối với người đi vay, họ sẽ thỏa mãn được nhu cầu vốn để kinh doanh, chi tiêu, thanh toán mà không phải chi phí nhiều về sức, thời gian để tìm kiếm nơi cung ứng vốn tiện lợi, chắc chắn và hợp pháp. - Đối với ngân hàng thương mại, họ sẽ tìm kiếm được lợi nhuận từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi hoặc hoa hồng môi giới. Lợi nhuận này chính là cơ sở để tồn tại và phát triển của NHTM. - Đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu về vốn để đảm bảo quá trình tái sản xuất được thực hiện liên tục và để mở rộng quy mô sản xuất.[1] 8 Chức năng trung gian thanh toán NH đứng ra làm trung gian để thực hiện các khoản giao dịch thanh toán giữa các KH, giữa người mua và người bán…để hoàn tất các quan hệ kinh tế thương mại giữa họ với nhau.
NH cung cấp phương tiện thanh toán, đặc biệt các phương tiện thanh toán không sử dụng tiền mặt (séc, hối phiếu, thẻ thanh toán, ủy nhiệm chi/thu…) cho nền kinh tế, tiết kiệm chi phí, mang lại hiệu quả cao cho các chủ thể tham gia thanh toán. Ngày nay việc thanh toán không sử dụng tiền mặt đang trở nên phổ biến, càng khẳng định vai trò quan trọng của các NHTM. Lệnh Giấy Ngƣời thụ Ngƣời trả tiền hƣởng Ngƣời mua Trả tiền báo Ngƣời bán (Công ty, xí NHTM nghiệp, tổ Qua tài khoản (Công ty, xí có nghiệp, tổ chức) chức) Sơ đồ 1. Chức năng trung gian thanh toán Chức năng thanh toán của NHTM có tác dụng: - Giảm lượng tiền mặt lưu thông, từ đó chi phí phát hành tiền mặt giảm.
- Chính sách điều tiết các khối tiền tệ dễ dàng thực thi hơn. - Góp phần tăng nhanh tốc độ lưu chuyển vốn vì vậy sẽ làm giảm lượng vốn ứ đọng, không sinh lời trong nền kinh tế. - Kiểm soát dòng tiền tài chính, nhờ đó kiểm soát chặt chẽ các hoạt động trong nền kinh tế. Chức năng cung ứng dịch vụ ngân hàng Dịch vụ ngân hàng mà NHTM cung cấp cho KH, không chỉ thuần túy để hưởng hoa hồng và dịch vụ phí, yếu tố làm gia tăng doanh thu và lợi nhuận cho NH mà dich vụ ngân hàng cũng có tác dụng hỗ trợ các mặt hoạt động chính của NHTM mà trước hết là hoạt động tín dụng.
Vì vậy các NHTM chỉ nhận các dịch vụ có liên quan đến hoạt động của NH. Các nghiệp vụ Nghiệp vụ nguồn vốn và tài sản nợ Nghiệp vụ huy động tiền vốn là hoạt động tiền đề có ý nghĩa đối với bản thân ngân hàng cũng như xã hội. Trong nghiệp vụ này, ngân hàng thương mại được sử dụng những biện pháp và công cụ cần thiết mà luật pháp cho phép để huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội, làm nguồn vốn tín dụng để cho vay đối với nền kinh tế. Kết quả của nghiệp vụ nguồn vốn là tạo ra nguồn vốn để đáp ừng nhu cầu của nền kinh tế.
Thành phần nguồn vốn của NHTM bao gồm: vốn điều lệ, các quỹ dự trữ, vốn huy động, vốn đi vay, vốn tiếp nhận, vốn khác. Nghiệp vụ cấp tín dụng và đầu tư Nghiệp vụ cho vay và đầu tư là nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng nhất, quyết định đến khả năng tồn tại và hoạt động của NHTM. Đây là nghiệp vụ cấu thành bộ phận chủ yếu và quan trọng của tài sản có của NH, bao gồm: - Dự trữ: là một bộ phận cần thiết và tất yếu đối với mọi NH. Bao gồm dự trữ sơ cấp và dự trữ thứ cấp.
Tỷ lệ dự trữ do NHTW ấn định. - Cấp tín dụng: Số nguồn vốn còn lại sau khi để dành một phần dự trữ, các NHTM dung để cấp tín dụng cho các đơn vị kinh tế bao gồm: cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bão lãnh NH, các hình thức khác. - Đầu tư: NH sẽ dung nguồn vốn ổn định của mình để đầu tư dưới dạng các hình thức như: hùn vốn mua cổ phần, cổ phiếu của các công ty, xí nghiệp hay mua trái phiếu chính phủ, chính quyền địa phương, mua trái phiếu công ty… - Tài sản có khác: chủ yếu là tài sản lưu động – cơ sở vật chất để tiến hành hoạt động của NH. Các hoạt động kinh doanh dịch vụ ngân hàng Những dịch vụ của NH ngày càng phát triển cho phép hỗ trợ đáng kể nghiệp vụ khai thác nguồn vốn, mở rộng các nghiệp vụ đầu tư, tạo thu nhập cho NH.
Bao gồm: 10 - Các dịch vụ thanh toán, thu chi hộ cho KH (chuyển tiền, thu hộ séc, dịch vụ cung cấp thẻ tín dụng, thẻ thanh toán…) - Nhận bảo quản các tài sản quý giá, giấy tờ, chứng thư quan trọng của dân chúng. - Kinh doanh mua bán ngoại tệ, vàng, bạc, đá quý. - Tư vấn tài chính cho các công ty, xí nghiệp phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Tổng quan về doanh nghiệp siêu nhỏ 1.
Khái niệm doanh nghiệp siêu nhỏ Doanh nghiệp siêu nhỏ là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu. Theo tiêu chí của Ngân hàng thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người. Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp siêu nhỏ ở nước mình. Ở Việt Nam, theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009, không phân biệt lĩnh vực kinh doanh, doanh nghiệp siêu nhỏ là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, có quy mô lao động bình quân năm từ 10 người trở xuống.
Tại BIDV, Doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ là doanh nghiệp có Doanh thu thuần năm liền kề ≤50 tỷ đồng; được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam. Trường hợp không xác định được DTT năm liền kề, Khách hàng thuộc đối tượng Doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ khi đáp ứng một trong hai điều kiện sau: (i) Tổng nhu cầu tín dụng của khách hàng ≤10 tỷ đồng; (ii) Tổng nhu cầu tiền gửi của khách hàng ≤5 tỷ đồng. Tầm quan trọng của doanh nghiệp siêu nhỏ Ở nhiều nước, các doanh nghiệp siêu nhỏ – các tổ chức kinh doanh nhỏ được tổ chức một cách không chính thức, và thường là do người nghèo sở hữu và điều hành - chiếm đa số trong cộng đồng doanh nghiệp. Các doanh nghiệp siêu nhỏ tạo ra một phần đáng kể trong tổng số việc làm và tổng sản phẩm quốc nội (GDP), và họ đóng góp đáng kể vào công cuộc xóa đói nghèo.
Doanh nghiệp siêu nhỏ thường là phương tiện sinh nhai chủ yếu đối với những hộ gia đình dễ 11 bị thiệt hại trong những môi trường có rủi ro cao, như môi trường có xung đột dân sự hay có thiên tai.