Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý thuế đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng. Chương 2: Thực trạng quản lý thuế đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng tại Chi cục Thuế huyện Hoằng Hóa. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện quản lý thuế đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng tại Chi cục Thuế huyện Hoằng Hóa. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG 1.
Tổng quan về các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng 1. Khái niệm doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. [15] Hoạt động xây dựng gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng, thi công xây dựng, giám sát xây dựng, quản lý dự án, lựa chọn nhà thầu, nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng, bảo hành, bảo trì công trình xây dựng và hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình. [14] Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế.
Công trình xây dựng bao gồm công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình khác. [14] Như vậy doanh nghiệp xây dựng là một tổ chức kinh tế, có tư cách pháp nhân kinh doanh các sản phẩm đặc biệt (sản phẩm là công trình xây dựng có giá trị lớn, thời gian sản xuất dài) trên thị trường xây dựng để đạt được mục đích tối đa hoá lợi nhuận. Đặc điểm của ngành xây dựng ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế Ngành nghề xây dựng là một loại ngành nghề sản xuất kinh doanh đặc 6 biệt theo đơn đặt hàng. Sản phẩm xây dựng mang tính chất đơn chiếc, riêng lẻ và thường có khối lượng lớn.
Mỗi đối tượng xây dựng là các công trình, hạng mục công trình, đòi hỏi yêu cầu kinh nghiệm, kết cấu, hình thức, địa điểm xây dựng thích hợp, được xác định cụ thể trên từng thiết kế dự toán của từng đối tượng riêng biệt. Do tính chất đơn chiếc, riêng lẻ và thường có khối lượng lớn nên chi phí bỏ ra để thi công xây dựng các công trình và kết cấu không đồng nhất như các loại sản phẩm công nghiệp khác. Từ đặc điểm này, khi thanh tra kiểm tra thuế, cán bộ thuế phải tính đến việc theo dõi ghi nhận chi phí, tính giá thành và tính kết quả thi công cho từng sản phẩm xây dựng riêng biệt (từng công trình, hạng mục công trình) để dễ dàng xác định chi phí sản xuất và tính giá thành một cách chính xác tránh thất thoát nguồn thu NSNN. Đối tượng xây dựng thường có khối lượng lớn, giá trị lớn, thời gian thi công tương đối dài.
Kỳ tính giá sản phẩm xây dựng không xác định hàng tháng như các loại hình doanh nghiệp khác mà được xác định tùy thuộc vào đặc điểm kỹ thuật của từng công trình. Điều này thể hiện qua phương thức thanh toán giữa hai bên nhà thầu và khách hàng. Việc xác định đúng đắn đối tượng tính giá thành và kỳ tính giá thành sẽ đáp ứng yêu cầu quản lý kịp thời và chặt chẽ chi phí, phản ánh đúng đắn tình hình quản lý và thi công trong từng thời kỳ nhất định, tránh trường hợp kê khai thiếu doanh thu tính thuế hoặc tăng chi phí được trừ nhằm làm giảm số thuế phải nộp. Trong quá trình thi công nhà thầu phải thường xuyên thay đổi địa điểm, do đó sẽ phát sinh một số chi phí cần thiết như chi phí điều động công nhân, máy thi công, chi phí chuẩn bị mặt bằng.
Chi phí nhân công phần lớn theo thời vụ, thuê ngoài và không có hợp đồng lao động. Nhiều khoản chi phí này không có trong dự toán xây dựng, nhưng kế toán doanh nghiệp thường đội chi phí khi xác định thu nhập tính thuế TNDN để làm giảm số thuế phải nộp. Vị trí của doanh nghiệp xây dựng trong nền kinh tế quốc dân. 7 Lịch sử phát triển xã hội loài người đã trải qua hàng ngàn năm, trong mỗi thời kỳ sự tồn tại của con người luôn gắn với các công trình kiến trúc để chứng tỏ sự văn minh của thời ký đó.
Do vậy nhu cầu về xây dựng là nhu cầu thường xuyên và ngày càng tăng lên cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia. Ngày nay, sản xuất càng phát triển, phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc thì vị trí, vai trò của ngành xây dựng trong nền kinh tế quốc dân ngày càng được khẳng định. Nếu như trong điều kiện kinh tế chưa phát triển, hoạt động xây dựng chỉ phục vụ cho các công trình nhỏ với hình thức đơn giản và kỹ thuật thô sơ. Khi nền kinh tế phát triển, xây dựng đã trở thành một ngành sản xuất vật chất quan trọng phục vụ cho nền kinh tế.
Các doanh nghiệp xây dựng cũng phát triển để đáp ứng nhu cầu của xã hội. Khi nền kinh tế chưa phát triển, các doanh nghiệp xây dựng với số lượng lao động ít, trình độ thấp, trang thiết bị kỹ thuật thô sơ, chủ yếu xây dựng thủ công. Ngày nay với số lượng lao động dồi dào, trình độ tay nghề cao, trang thiết bị máy móc hiện đại, sử dụng các phương pháp thi công tiên tiến, áp dụng các thành tựu khoa học vào xây dựng các công trình. Xuất phát từ thực tế, do vậy hầu như các doanh nghiệp xây dựng hiện nay đủ sức đảm nhận thi công những công trình có quy mô lớn và kỹ thuật phức tạp trong và ngoài nước.
Về mặt tổ chức quản lý sản xuất, các doanh nghiệp xây dựng ngày càng thay đổi để phù hợp với nhu cầu của xã hội. Từ những doanh nghiệp nhỏ, phân tán, hoạt động trong phạm vi hẹp, hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp, đến nay đã hình thành những Tổng công ty, các Tập đoàn xây dựng có tính toàn quốc và xuyên quốc gia. Sự phát triển của các loại hình doanh nghiệp xây dựng phụ thuộc vào từng quốc gia, ở các nước có nền kinh tế phát triển như Mỹ, Anh, Pháp…chủ yếu là các doanh nghiệp xây dựng vừa và nhỏ phát triển. Sự cạnh tranh của các doanh nghiệp này tương đối gay gắt dẫn tới có sự chuyên môn hoá theo ngành xây dựng.
Công nghệ xây dựng thế giới hiện nay 8 thường tập trung vào xây dựng nhà cao tầng, xây dựng đường hầm và ngoài biển với các khoản chi phí đầu tư nghiên cứu tương đối lớn ở các nước đã và đang phát triển. Ngành xây dựng ở bầt kỳ một quốc gia nào cũng giữ một vai trò quan trọng trong việc nộp thuế cho ngân sách Nhà nước, thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế. Đối với Việt Nam, Nhà nước ta thường quan tâm tới ngành xây dựng, coi đây là một ngành công nghiệp đặc biệt, khi ngành xây dựng phát triển là tiền đề để các ngành công nghiệp khác phát triển theo. Chính vì thế vốn đầu tư của ngân sách Nhà nước cấp cho ngành xây dựng ngày càng tăng để xây dựng cơ sở hạ tầng kiến trúc.
Trong nền kinh tế thị trường của Việt Nam hiện nay, với xu thế hội nhập và phát triển, nước ta đang thu hút một lượng vốn đầu tư rất lớn từ phía nước ngoài. Các dự án đầu tư đó ở nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế: Dự án giao thông, điện, nước, nông nghiệp, y tế, giáo dục… Tất cả các dự án này đều có sự tham gia của các doanh nghiệp xây dựng. Điều đó càng khẳng định vị trí, vai trò của doanh nghiệp xây dựng trong nền kinh tế quốc dân, nó là chỗ dựa vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của mỗi quốc gia. Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về thuế đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng tại Việt Nam hiện nay - Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2006.
Luật số 21/2012/QH13 ban hành ngày 20 tháng 11 năm 2012 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế; Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 ban hành ngày 13 tháng 6 năm 2019 của Quốc hội. - Thông tư số 156/2013/TT-BTC ban hành ngày 06 tháng 11 năm 2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật quản lý thuế; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế và Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ; Thông tư số 92/2015/TT- 9 BTC ban hành ngày 15 tháng 6 năm 2015 của Bộ Tài chính ban hành hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế; - Thông tư số 95/2016/TT-BTC ban hành ngày ngày 28 tháng 6 năm 2016 của Bộ Tài chính ban hành hướng dẫn về đăng ký thuế; - Luật Thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 ban hành ngày 03 tháng 6 năm 2008; Luật số 31/2013/QH13 ban hành ngày 19 tháng 6 năm 2013 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng. - Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2014, được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 119/2014/TT- BTC ngày 25 tháng 8 năm 2014 của Bộ Tài chính, Thông tư số 151/2014/TT- BTC ngày 10 tháng 10 năm 2014 của Bộ Tài chính, Thông tư số 26/2015/TT- BTC ngày 27 tháng 02 năm 2015 của Bộ Tài chính. - Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 ban hành ngày 03 tháng 06 năm 2008; Luật số 32/2013/QH13 ban hành ngày 19 tháng 6 năm 2013 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp; - Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18 tháng 6 năm 2014 hướng dẫn thi hành Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định và hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.