CHƯƠNG 1: CO s o LÝ LUẬN VÈ KIÊM SOÁT NỘI BỢ NGHIỆP v ụ HUY ĐỘNG VÓN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỎNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ NGHIÊN CỨU 1.1 Các nghiên cứu ỏ' nước ngoài * Các nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ - Nghiên cứu hệ thống KSNB theo hướng quản trị: COSO (1992).Spira và Micheál Page (2002); Yuan Li, Yi Liu, Younggbin Zhao (2006) cho rằng KSNB có vai trò định hướng thị trường của doanh nghiệp và tác động đến hoạt động phát triển sản phẩm mới. Mawanda, (2008) cho rằng mối quan hệ giữa HTKSNB và hiệu quả tài chính tại các trường đại học ở Uganda. William & Kwasi, (2013) kết luận răng các HTKSNB hỗ trợ nhà quản lý và kiểm toán viên trong việc thực hiện nhiệm vụ cua mình.
Varipin Mongkolsamai & Phapruke Ussahawanitchakit. Trong lĩnh vực kiêm toán nội bộ. một số công trinh nghiên cứu cũng đề cập đến kiểm soát nội bộ trong mối quan hệ với kiểm toán nội bộ: Tác giả Victor z.Brink và Herbert Witt (1941); Karagiogos, Drogalas, Dimou, (2014) đã nghiên cứu sự tưong tác giữa các thành phần của KSNB và hiệu quả của kiếm toán nội bộ. - Nghiên cứu tác động của HTKSNB tới giá trị của DN: Ge & McVay, (2005); Shenkir & Walker.
(2005); Hammersley, (2007) - Nghiên cứu mối liên hệ giữa HTKSNB và chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết: J. * Kinh nghiệm quốc tế về hệ thống KSNB của NHTM Kinh nghiệm quốc tế về hệ thống KSBB của NHTM được xây dựng dựa trên hai nhân tố chính cụ thể như sau: Thứ nhất: Hệ thống lý luận về KSNB ngân hàng theo báo cáo Basel. rhứ hai: Thực tiễn vận dụng lý luận về KSNB trong các NHTM tại một số nước trên thẻ giới.2 Các nghiên cứu ỏ' trong nước - Các nghiên cứu liên quan đến lý luận về kiểm soát nội bộ : Trường Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh (2007): Nguyễn Quang Quynh (2006); Trần Thị Giang Tân và Bộ môn Kiểm toán (2012); Phạm Quang Huy (2014). - Các nghiên cứu về KSNB tại các đơn vị cụ thể Ngô Trí Tuệ và cộng sự (2004); Phạm Bính Ngọ (2011); Nguyễn Thu Hoài (2011); Bùi Thị Minh Hải (2012); Nguyễn Thị Lan Anh (2013); Hà Xuân Thạch & Nguyễn Thị Mai Sang (2016) - Nghiên cứu HTKSNB trong các ngân hàng thương mại: Các tác giả Phan Hùng An (2005).
Hoàng Huy Hà (2006); Đinh Phà Minh (2006); Vũ Thuý Ngọc (2006); Nguyễn Đức Thảo & Trần Quốc Đạt (2006); Việt Dũng (2007); Phan Văn Tính (2007); Đào Văn Phúc & Lê Văn Minh. (2012); Nguyễn Thị Hương Liên (2015) trong các nghiên cứu của mình đều chỉ ra rằng hệ thống kiểm soát nội bộ trong các ngân hàng thương mại Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế và đã xây dựng các mô hình kiểm soát hiện đại. hữu hiệu đáp ứng nhu cầu hội nhập trong giai đoạn mới. Võ Thị Hoàng Nhi & Lê Thị Thanh Huyền (2014) trong nghiên cứu của mình đã chỉ ra được thực trạng của hệ thống KSNB trong các NHTM Việt Nam và đưa ra định hướng hoàn thiện hệ thống KSNB của các NHTM Việt Nam bàng cách hoàn thiện các yếu tố trong mô hình 5 yếu tố tác động của tổ chức c o s o.
Nguyễn Anh Phong & Hà Tôn Trung Hạnh (2010) đã dựa vào nguyên tắc của Basel II và chỉ ra rằng có 5 nhóm yếu tố tác động đèn hiệu quả của hệ thông KSNB trong các ngân hàng thương mại bao gồm: (1) môi trường kiêm soát và giám sát của Ban lãnh đạo; (2) xác định và đánh giá rủi ro; (3) các hoạt động kiểm soát và phân công phân nhiệm; (4) thông tin và truyền thông; (5) giám sát hoạt động và sửa chữa sai sót. Nguyễn Tuấn & Đường Nguyễn Hưng (2015) trong nghiên cứu cua mình đã đề xuất mô hình các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động và rủi ro của các NH TM Việt Nam bao gồm: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro. hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát.3 Định hướng nghiên cứu của tác giả Mặc dù các nghiên cứu về KSNB trong các ngân hàng thương mại ở trong nước khá nhiều và đa dạng, đặc biệt là các nghiên cứu vê KSNB nghiệp vụ tín dụng, tuy nhiên các nghiên cứu về KSNB nghiệp vụ huy dộng vốn thì còn ít và chưa trình bày được những ưu điểm và hạn chế của kiểm soát nội bộ nghiệp vụ huy động vốn từ thực trạng kiêm soát nội bộ nghiệp vụ huy động vốn tại ngân hàng nên các giải pháp của các nghiên cứu này đưa ra nhằm để tăng cường hiệu quả kiểm soát nội bộ nghiệp vụ huy động tại ngân hàng là chưa rõ và cụ thể. Trên quan điểm kế thừa và tiếp tục phát triên những công trình nghiên cứu trước, luận văn sẽ tiếp tục nghiên cứu KSNB nghiệp 6 vụ huy động vôn và tập trung tìm hiểu thực trạng KSNB nghiệp vụ huy động vốn tại Ngân hàng ĨM CP Đông Nam A một cách cụ thể hơn đế có thể rút ra những ưu điểm và hạn chế của kiểm soát nội bộ nghiệp vụ huy động vốn xuất phát từ thực trạng.
Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện KSNB nghiệp vụ huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á trong điều kiện nền kinh tế hiện nay.2 HỆ THỐNG LÝ LLẠN VÈ KIÊM SOÁT NỘI BỢ 1.1 Khái niệm về kiểm soát nội bộ Khái niệm KSNB được định nghĩa lần đầu tiên vào năm 1929 trong công bố của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Federal Reserve Bulletin), theo đó KSNB là một công cụ đè bao vệ tiền và các tài sản khác đông thời thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động, và đây là một cơ sở để phục vụ cho việc lấy mẫu thử nghiệm của kiểm toán viên. Hiệp hội kiểm toán viên công chứng Mỹ (AICPA) đã định nghĩa KSNB: "là các biện pháp và cách thức được chấp nhận và được thực hiện trong một tổ chức đê bảo vệ tiên và các tài sản khác, cũng như kiêm tra sự chính xác trong việc ghi chép của sổ sách” Với định nghĩa này, mục tiêu của KSNB đã được bổ sung không chỉ nhăm bảo vệ tiên và các tài sản khác mà còn bảo đảm sô liệu kê toán chính xác. Theo thời gian, khái niệm KSNB được định nghĩa mở rộng ra khỏi những thủ tục bảo vệ tài sản và ghi chép sổ sách kế toán. trong công trình nghiên cứu đầu tiên vê KSNB với nhan đề “KSNB, các nhân tô câu thành và tầm quan trọng đối với việc quan trị doanh nghiệp và đối với kiểm toán viên độc lập" AICPA đã bổ sung thêm mục tiêu thúc đẩy hoạt động có hiệu qua và khuyến khích sự tuân thủ các chính sách của nhà quản lý vào trong định nghĩa về KSNB.
trong tài liệu về thủ tục kiểm toán 29 (SAP 29 - Statement on Auditing Procedure 29) do ủ y ban thủ tục kiểm toán (CAP) trực thuộc AICPA ban hành đã lần đầu tiên phân biệt KSNB về quản lý và KSNB về kế toán, theo đó: KSNB về kế toán bao gôm kê hoạch tổ chức, các phương pháp và thủ tục liên hệ trực tiếp đên việc bảo vệ tài san và tính đáng tin cậy của số liệu kế toán. Chúng thường bao gồm các thủ tục kiêm soát như hệ thống xét duyệt và phê chuẩn, tách biệt nhiệm vụ giữ sổ sách và lập báo cáo với bảo quản tài sản, kiểm soát vật chất với tài sản và kiểm toán nội bộ. KSNB vê quản lý bao gồm kế hoạch tổ chức, các phương pháp và thủ tục liên quan chủ yêu đên tính hữu hiệu trong hoạt động và sự tuân thủ chính sách quản trị. Chúng thường chỉ liên quan gián tiếp đến thông tin tài chính, bao gồm các hoạt động kiêm soát như phân tích thông kê.
nghiên cứu vê thời gian và động cơ, báo cáo về tính hiệu quả. chương trình huấn luyện nhân viên và kiểm soát chất lượng. KSNB về kế toán ảnh hưởng trực tiếp đến thông tin tài chính, trong khi đó KSNB về quản lý chỉ anh hương gián tiếp đến thông tin tài chính. Kiểm toán viên độc lập với nhiệm vụ đưa ra ý kiến nhận xét về độ tin cậy của thông tin tài chính sẽ tập trung chú trọng đến KSNB về kế toán, còn KSNB về quản lý sẽ được xét đến nếu kiểm toán viên tin rằng một số thủ tục kiểm soát hành chính có thể ảnh hưởng tính đáng tin cậy của thông tin tài chính.
* KSNB theo quan điểm của coso Giới thiệu về COSO (The Committee o f Sponsorinẹ Organizations of the Treadway Commission)- Uỷ ban các to chức tài trợ thuộc Hội Đồng quốc gia Hoa Kỳ vê chông gian lận khi lập BCTC. Website của Ưỷ ban là w w w. o r s Nhìn chung, trước khi có Báo cáo coso năm 1992 khái niệm KSNB chưa được định nghTa một cách đầy du trên các phương diện. Với trách nhiệm được thành lập để thông nhât định nshĩa về KSNB và các bộ phận cấu thành KSNB phục vụ cho nhu cầu của các đối tượng khác nhau, năm 1992 coso đã phát hành Báo cáo đầu tiên KSNB- Khuôn khô hợp nhất (Internal Control - Integrated framework), tạo nên một khơi đầu vê tiêns nói chung cho các tô chức và đã trở thành chuân mực và áp dụng rộng rãi trên toàn Thế Giới.
Theo đó khái niệm KSNB được định nghĩa “là một quá trình do người quản lý, HĐQT và các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập đế cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện các mục tiêu sau đây: Đảm bảo sự tin cậy của BCTC; Đam bảo sự tuân thủ các quy định và luật lệ; Đảm bảo các hoạt động được thực hiện hiệu quả". Khái niệm KSNB được trình bày trong Chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 315 - Hiêu biết tình hình kinh doanh, môi trường của doanh nghiệp và đánh giá rủi ro có sai phạm trọng yếu, do Uy ban Chuân mực Kiểm toán và các Dịch vụ đảm bảo quôc tế (IAASB) ban hành năm 2003 cơ bản cũng đồng nhất với định nghĩa về KSNB trong Báo cáo cua coso năm 1992. Tuy nhiên, sau hơn 20 năm kể từ ngày phát hành Báo cáo KSNB - Khuôn khổ hợp nhât lân đâu tiên, môi trường kinh doanh và hoạt động điều hành của các doanh nghiệp đã có nhiều thay đổi, ngày càng trở nên phức tạp đòi hỏi mục tiêu của KSNB cần được mở rộng hơn so với nhũng khuôn khô ban đầu. Chính vì vậy.