Chương 1: Tổng quan đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ tín dụng trong ngân hàng Thương mại Chương 3: Thực trạng kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín - chi nhánh Hậu Giang. Chương 4: Một số giải pháp hoàn thiện thống kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín - chi nhánh Hậu Giang. Chương 5: Kết luận và Kiến nghị 5 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ Ý UẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm về hệ thống kiểm soát nội bộ trong ngân hàng thƣơng mại Khái niệm KSNB xuất hiện đầu thế kỷ XX, trong các tài liệu về kiểm toán với ý nghĩa rất đơn giản: các biện pháp nhằm bảo vệ tiền không bị nhân viên biển thủ.
Sau đó khái niệm này được mở rộng và đề cập chính thức trong Federal Reserve Bulletin năm 1992, người ta cho rằng KSNB không dừng lại ở việc bảo vệ tài sản mà còn đảm bảo việc ghi chép kế toán chính xác, nâng cao hiệu quả hoạt động và tuân thủ các chính sách của nhà quản lý. Theo Basel (1998), hệ thống kiểm soát nội bộ là quá trình bị chi phối bởi Hội đồng quản trị, các nhà quản lý cao cấp và nhân viên. KSNB không chỉ là một thủ tục hay chính sách được thực hiện tại một thời điểm cụ thể mà là một hoạt động liên tục ở mọi khâu trong ngân hàng. KSNB được thiết lập nhằm cung cấp sự đảm bảo hợp lý để thực hiện các mục tiêu chủ yếu sau: Sự hiệu lực và hiệu quả của các hoạt động (mục tiêu hoạt động); Sự tin cậy, đầy đủ và kịp thời của thông tin tài chính và quản trị (mục tiêu thông tin); Sự tuân thủ pháp luật và các quy định liên quan (mục tiêu tuân thủ).
Theo COSO (1992), kiểm soát nội bộ là một quá trình chịu ảnh hưởng bởi bởi Hội đồng quản trị, các nhà quản lý và các thành viên khác trong đơn vị được thiết kế nhằm đảm bảo, hợp lý liên quan đến việc đạt được các loại mục tiêu: hiệu quả và hiệu lực của hoạt động, sự tin cậy của báo cáo tài chính, tuân thủ pháp luật và luật lệ Theo COSO (2004) Kiểm soát nội bộ là phương tiện nhằm giảm thiểu những yếu tố gây tác động xấu đến hoạt động của một đối tượng nào đó. Nội bộ là sự hiện hữu hay định vị bên trong bề mặt của một cái gì đó thuộc về hay liên quan đến cơ cấu của một tổ chức. Qua các giai đoạn hình thành và phát triển từ sơ khai đến hiện đại, Kiểm soát nội bộ dần dần được mở rộng và hoàn thiện hơn. Quá trình nhận thức và nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ đã dẫn đến các qui định khác nhau từ giản đơn đến phức tạp về hệ thống này.
Và cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về KSNB những định nghĩa được chấp nhận khá rộng rãi là định nghĩa của COSO (2004) nên đề tài này được được nghĩa: Kiểm soát nội bộ là một quá trình do người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị chia phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhầm thực hiện mục tiêu dưới đây: 6 Sự hữu hiệu và hiểu quả hoạt động. Sự tin cậy của báo cáo tài chính. Sự tuân thủ pháp luật và các qui định Theo COSO 2013, kiểm soát nội bộ là quá trình chịu sự ảnh hưởng của Hội đồng Quản trị, Ban lãnh đạo và các nhân viên của đơn vị, được thiết lập nhằm cung cấp sự bảo đảm hợp lý cho việc đạt được các mục tiêu liên quan đến hoạt động, báo cáo và tuân thủ. Hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng hoạt được tổ chức hoạt động theo quy định tại Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010 và Thông tư số 44/2011/TT-NHNN ngày 29/12/2011 của Ngân hàng Nhà nước.
Vậy hệ thống kiểm soát nội bộ ở đề tài này được hiểu là tập hợp các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ, cơ cấu tổ chức của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được xây dựng phù hợp với hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước và được tổ chức thực hiện nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra. Các yếu tố ảnh hƣởng hệ thống kiểm soát nội bộ ngân hàng Từ khi ban hành (năm 1992) đến nay, nội dung của COSO không chỉ phục vụ cho công tác tài chính, kế toán mà còn hỗ trợ hiệu quả cho các doanh nghiệp. Tháng 5/2013, Ủy ban COSO (Ủy ban thuộc Hội đồng Quốc gia Hoa Kỳ về việc chống gian lận trên báo cáo tài chính, được thành lập năm 1985) đã ban hành Báo cáo COSO 2013 - bản cập nhật, sửa đổi bổ sung Báo cáo COSO 1992 (Báo cáo COSO 2013). Đây là sự thay đổi lớn nhất kể từ lần đầu tiên ban hành vào năm 1992.
Mục tiêu của báo cáo COSO 2013 là thiết lập các khuôn mẫu và đưa ra các hướng dẫn về quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ và biện pháp để giảm thiểu gian lận, từ đó giúp cải thiện hiệu quả hoạt động cũng như tăng cường sự giám sát của ngân hàng. Từ năm 1992 đến 2013, COSO đã đưa ra các văn bản hướng dẫn giúp doanh nghiệp thiết kế, vận hành, đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của mình, phát triển thêm các nguyên tắc để phục vụ cho công tác quản trị nhằm giảm rủi ro kinh doanh và hướng đến quản trị doanh nghiệp theo hướng đa mục tiêu (Nguyễn Hoàng Phương Thanh, 2017). Theo báo cáo của COSO (2013) thì một hệ thống KSNB bao gồm năm phần có mối quan hệ chặt chẽ với nhau như sau : (1) Môi trường kiểm soát (2) Đánh giá rủi ro 7 (3) Hoạt động kiểm soát (4) Thông tin và truyền thông (5) Giám sát Đó là những yếu tố không thể thiếu của hệ thống KSNB. Tùy vào loại hoạt động mục tiêu và qui mô của đơn vị mà hệ thống KSNB được sử dụng khác nhau.
Môi trƣờng kiểm soát Môi trường kiểm soát là nền tảng và ý thức, là văn hóa của tổ chức tác động đến ý thức kiểm soát của toàn thành viên trong tổ chức. Môi trường cho bốn bộ phận (hay thành phần) còn lại hệ thống KSNB nhằm xây dựng những nguyên tắc và cơ cấu hoạt động phù hợp, nó được thể hiện thông qua tính kỷ luật, cơ cấu tổ chức, giá trị đạo đức, tính trung thực, triết lý quản lý, phong cách điều hành,… Đánh giá rủi ro Đơn vị phải nhận thức được và đối phó với các rủi ro mà tổ chức có thể gặp phải. Đánh giá rủi ro là việc nhận dạng, phân tích và quản lý các rủi ro có thể đe dọa đến việc đạt được đến mục tiêu của tổ chức, như mục tiêu bán hàng, sản xuất, marketing, tài chính và hoạt động khác sao cho tổ chức đạt được mục tiêu chung và các mục tiêu cụ thể cho từng hoạt động, đánh giá rủi ro những nhân tố sau: - Xác định mục tiêu của đơn vị: thực ra đây không phải là bộ phận của kiểm soát nội bộ nhưng là điều kiện tiên quyết, là cơ sở quan trọng để đánh giá rủi ro. Một sự kiện chỉ được xem là rủi ro nếu nó đe dọa việc đạt được mục tiêu của doanh nghiệp.
Do đó, mục tiêu phải được đề ra thì nhà quản lí mới có thể nhận diện được rủi ro và có những hành động cần thiết để quản lí chúng. - Nhận dạng và phân tích rủi ro: được thưc hiện thông qua xem xét nhân tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động của doanh nghiệp. Bao gồm việc xem xét tầm quan trọng và khả năng xảy ra rủi ro, từ đó cân nhắc việc đối phó rủi ro, quản lí và giảm thiểu tác hại của chúng. Thủ tục kiểm soát Thủ tục kiểm soát là những chính sách và thủ tục nhầm đảm bảo cho các chỉ thị của nhà quản lý được thực hiện nhằm giúp kiểm soát các rủi ro mà đơn vị đang hoặc có thể gặp phải và tạo điều kiện cho tổ chức đạt được mục tiêu đặt ra được thực thi nghiêm túc trong toàn tổ chức.
Thủ tục kiểm soát bao gồm nhiều hoạt động bao quát hết doanh nghiệp như việc phê duyệt, chuẩn y các hoạt động, thẩm tra,…Thông qua 8 các hoạt động kiểm soát nhà quản lý sẽ tự tin là tài sản của công ty được bảo vệ và báo cáo tài chính đáng tin cậy, hoạt động kiểm soát bao gồm những nhân tố: - Phân chia trách nhiệm đầy đủ: Quyền hạn, trách nhiệm và nghĩa vụ trong ba lĩnh vực cấp phép và phê duyệt các vấn đề tài chính, Kế toán và thủ kho được phân định độc lập rõ ràng. Bên cạnh đó, ban hành văn bản quy định rõ ràng những ai có quyền hoặc được uỷ quyền phê duyệt toàn bộ hay một loại vấn đề nào đó. - Kiểm soát quá trình xử lí thông tin:Ngân hàng đã tổng hợp và thông báo kết quả đều đặn và đối chiếu các kết quả thu được với các định mức, chỉ số định trước để điều chỉnh, bổ sung kịp thời. - Kiểm soát vật chất: Ngân hàng đã có biện pháp cấm, ngăn ngừa các lãnh đạo cao cấp của mình sử dụng kinh phí và tài sản Ngân hàng vào các mục đích riêng.
Thực hiện giám sát, bảo vệ và bảo dưỡng tài sản, vật tư trang thiết bị khỏi bị mất mát, hao hụt, hỏng hóc hoặc sử dụng sai đúng mục đích. - Kiểm tra độc lập việc xử lí việc thực hiện: Ngân hàng đã lưu giữ các chứng cứ dưới dạng văn bản tạo điều kiện phân định rõ ràng phần thực hiện công việc với phần giám sát tại bất kỳ thời điểm nào, kể cả việc xác định cá nhân có tránh nhiệm về các sai phạm xảy ra. Hệ thống thông tin Hệ thống thông tin chính là điều kiện không thể thiếu cho việc thiết lập, duy trì và nâng cao lực và kiểm soát trong đơn vị thông qua việc hình thành các báo cáo để cung cấp thông tin về hoạt động, tài chính và sự tuân thủ, bao gồm cả bên trong và bên ngoài đơn vị. Truyền thông là việc thông tin cho người lao động được biết về vai trò và trách nhiệm của hộ đối với tổ chức.
Có thể dùng cách in thành sách, bảng ghi nhớ cho nhân viên hay dùng hệ mạng để truyền tin.