mở đầu một quan hệ tín dụng với một khách hàng. Quyết định cấp tín dụng đối diện với rủi ro lựa chọn đối nghịch xuất phát từ tình trạng thông tin bất đối xứng. Để đƣa ra một quyết định cho vay hay từ chối một món vay, ngân hàng phải dựa trên cơ sở thẩm định về tài sản đảm bảo, phƣơng án sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính, khả năng trả nợ… Trong khi việc XHTD là xác định mức rủi ro tín dụng tổng thể của một khách hàng. Rõ ràng, việc XHTDNB đem đến cho ngân hàng một cái nhìn Luan van 10 khách quan và tổng thể hơn thẩm định tín dụng do đó kết quả XHTDNB giúp cho ngân hàng ra quyết định cho vay và cung cấp dịch vụ theo mức độ xếp hạng hoặc cho vay có đảm bảo bằng tài sản hay không.
Việc đánh giá lại xếp hạng tín dụng định kỳ giúp cho ngân hàng phân loại khách hàng, dễ dàng sàng lọc và lựa chọn khách hàng vay tốt. Một khách hàng tốt xét theo quan điểm của ngân hàng là ngƣời đi vay có mức độ rủi ro tín dụng thấp, tức ngƣời đó có xếp hạng tín dụng nằm trong ngƣỡng rủi ro có thể chấp nhận theo chính sách tín dụng của ngân hàng. - Chính sách lãi suất Thông qua việc XHTDNB, ngân hàng có cơ sở để thực hiện chính sách phí phần bù rủi ro, tức là những khoản vay có mức rủi ro cao hơn sẽ đƣợc áp dụng một mức phí bù rủi ro cao hơn và do đó, lãi suất của những khoản vay có cùng kỳ hạn sẽ đƣợc phân biệt theo mức rủi ro của nó. Tƣơng ứng với từng mức độ xếp hạng, ngân hàng sẽ định ra một mức phí bù rủi ro thích hợp cho từng khoản vay và kết hợp với nhiều yếu tố khác để định ra mức lãi suất thích hợp.
Do đó, có thể nói hệ thống XHTDNB là một căn cứ quan trọng cho việc hoạch định chính sách lãi suất của ngân hàng. Chính sách lãi suất dựa trên cơ sở phần bù rủi ro cho phép các ngân hàng mở rộng biên độ chấp nhận tín dụng và bù đắp bằng mức phí bù rủi ro qua đó, cho phép mở rộng quy mô tín dụng. - Chính sách đảm bảo tiền vay Việc xác định tỷ lệ cho vay trên giá trị tài sản bảo đảm cũng phụ thuộc vào mức độ rủi ro của ngƣời vay. Trên thực tế, tồn tại một mâu thuẫn lớn trong việc xác định các yêu cầu về tài sản bảo đảm.
Với cùng một giá trị khoản vay nếu yêu cầu giá trị tài sản bảo đảm cao thì mức độ an toàn tài sản của NH sẽ cao hơn nhƣng điều này sẽ thu hẹp quy mô tín dụng vì sẽ gây khó khăn cho ngƣời vay. Ngƣợc lại, nếu nới lỏng điều kiện này sẽ dẫn đến mất an toàn tài sản cho ngân hàng nhƣng quy mô tín dụng sẽ có điều kiện mở rộng. Luan van 11 Một trong những giải pháp cho khó khăn này là căn cứ vào kết quả XHTDNB kết hợp với mức phí bù rủi ro để xác định các yêu cầu về tài sản bảo đảm cho phù hợp với từng khoản vay. Cụ thể, những ngƣời vay đƣợc xếp hạng cao sẽ đƣợc ƣu tiên về mức bảo đảm bằng tài sản.
Những ngƣời vay đƣợc xếp hạng thấp sẽ hoặc là phải có tài sản bảo đảm có giá trị cao so với giá trị hợp đồng vay hoặc là chấp nhận một mức phí bù rủi ro cao hơn. Hiện nay đã có nhiều mô hình hỗ trợ cho việc xác định tƣơng quan giữa phí bù rủi ro và tỷ lệ giá trị tài sản bảo đảm nhƣ mô hình cấu trúc kỳ hạn của rủi ro. - Chính sách các loại phí dịch vụ Tƣơng tự nhƣ chính sách lãi suất, hệ thống XHTDNB cũng đóng góp vào việc phân loại khách hàng để áp dụng chính sách phí khác nhau. Ngân hàng có những ƣu đãi cho nhƣng khách hàng có độ rủi ro thấp nhƣ giảm các loại phí: phí thẩm định, phí lƣu giữ tài sản, phí chuyển tiền….
- Thiết lập các điều khoản hạn chế trong hợp đồng tín dụng Các điều khoản hạn chế là một giải pháp cho vấn đề rủi ro đạo đức và thông tin bất đối xứng, ràng buộc ngƣời vay thực hiện các hành vi mà ngƣời cho vay yêu cầu ngƣời vay thực hiện và các hành vi ngƣời vay không đƣợc phép làm. Chẳng hạn, ngân hàng cho khách hàng sử dụng hàng tồn kho nhƣ tài sản đảm bảo cho món vay do đó hàng tồn kho là nguyên vật liệu thì phải duy trì số lƣợng nhất định khi ngân hàng đến kiểm tra đột xuất. Hay, ngân hàng đƣa ra những lĩnh vực sản xuất, kinh doanh mà ngƣời vay không đƣợc khuyến khích đầu tƣ….Đối với mỗi ngƣời vay cụ thể, các điều khoản hạn chế có thể khác nhau. Nhân tố chủ yếu tác động đến việc xác định các điều khoản hạn chế cho mỗi hợp đồng tín dụng chính là mức độ rủi ro tín dụng và các đánh giá cụ thể về các mặt của khách hàng.
Căn cứ phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng Việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng là một công cụ nhằm thực hiện phân tán rủi ro trên cơ sở trích trƣớc vào chi phí để xử lý những khoản nợ có vấn đề. Cơ sở để trích lập dự phòng rủi ro tín dụng là việc phân loại nợ theo Luan van 12 mức độ rủi ro của từng khoản nợ. Ở Việt nam, theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của NHNN, thì các tổ chức tín dụng phải xây dựng hệ thống XHTDNB để hỗ trợ cho việc phân loại nợ, quản lý chất lƣợng tín dụng phù hợp với phạm vi hoạt động, tình hình thực tế của tổ chức tín dụng. Việc hỗ trợ của hệ thống tín dụng nội bộ đƣợc thể hiện ở chỗ kết quả xếp hạng tín dụng khách hàng sẽ là một căn cứ quan trọng để phân loại nợ thành từng nhóm nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5 một cách khoa học, nhất quán và minh bạch qua đó trích lập dự phòng rủi ro, hỗ trợ ngân hàng quản lý chất lƣợng tín dụng.
Hỗ trợ công tác quản lý thông tin theo danh mục và lập báo cáo Dữ liệu đƣa vào hệ thống XHTD là rất phong phú, và thuộc nhiều loại trƣờng thông tin khác nhau liên quan đến hoạt động kinh doanh của khách hàng cũng nhƣ của khoản cấp tín dụng. Hơn nữa, hệ thống XHTD thƣờng đƣợc các tổ chức tín dụng thiết lập trên nền tảng công nghệ tin học cao, cho phép chiết xuất, quản lý các trƣờng thông tin theo từng danh mục yêu cầu và đƣa ra hệ thống báo cáo hiệu quả. Điều này có ý nghĩa rất lớn cho ngân hàng trong việc chiết xuất thông tin để phân tích, đánh giá, tạo lập cơ sở dữ liệu để ngày càng hoàn thiện hệ thống XHTD. HỆ THỐNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NHTM 1.
Đặc điểm giao dịch của khách hàng cá nhân Tâm lý giao dịch của khách hàng cá nhân có đặc điểm: - Mang nặng tâm lý ngại rủi ro khi giao dịch tiền bạc với ngân hàng. - Mang nặng tâm lý ngại phiền phức thủ tục khi giao dịch với ngân hàng. - Ngại giao dịch với ngân hàng sẽ lộ thông tin về thu nhập đối với ngƣời có thu nhập cao. - Mặc cảm không dám giao dịch với ngân hàng đối với ngƣời có thu nhập không cao.
Bên cạnh đó, đặc điểm giao dịch của khách hàng cá nhân là số lƣợng tài Luan van 13 khoản và hồ sơ giao dịch lớn nhƣng doanh số giao dịch thấp. Số lƣợng khách hàng đông nhƣng phân tán làm cho việc giao dịch không đƣợc thuận tiện. Tiêu chí đánh giá hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng cá nhân a. Tính khoa học của hệ thống XHTDNB Tính khoa học của hệ thống XHTDNB đƣợc thể hiện qua nội dung sau: - Việc lựa chọn mô hình đo lƣờng rủi ro tín dụng có đáp ứng các tiêu chuẩn cơ bản hay không? Mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn này? - Mô hình lựa chọn việc xác ðịnh các nhân tố giải thích mức ðộ rủi ro có dựa trên cõ sở khoa học không? Mô hình XHTDNB dựa trên cơ sở chấm điểm mà các NHTM Việt Nam hiện đang áp dụng có hai yếu tố quan trọng nhất cần đƣợc đánh giá là việc xác định nhóm các tiêu chí và trọng số của từng tiêu chí đánh giá.
Tính thực tiễn của hệ thống XHTDNB Một hệ thống XHTDNB thiếu tính thực tiễn sẽ chỉ mang tính hình thức, không phục vụ cho công tác quản trị rủi ro tại ngân hàng một cách thiết thực. Vì vậy, tính thực tiễn của hệ thống XHTDNB của một ngân hàng thể hiện ở hai điểm cốt yếu: - Hệ thống XHTDNB có tiêu chí phù hợp với các điều kiện thực tiễn trong hoạt động tín dụng của NHTM Việt Nam hiện nay không? - Trọng số của các chỉ tiêu trong hệ thống XHTDNB có cơ sở điều chỉnh phù hợp với đặc điểm cụ thể ở từng thời kì hay thị trƣờng mục tiêu không? 1. MỘT SỐ MÔ HÌNH XẾP HẠNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN 1. Mô hình FICO chấm điểm tín dụng cá nhân Fair Isaac and Co.
Inc đã xây dựng mô hình điểm số tín dụng FICO cho cá nhân vào năm 2001. Công ty dữ liệu tín dụng tiến hành ghi nhận và cập nhật thông tin tín dụng từ các tổ chức tín dụng, phân tích và cho điểm đối với từng ngƣời. Luan van 14 Những chỉ tiêu không đƣợc sử dụng để tính điểm trong mô hình FICO bao gồm: tên, địa chỉ, số CMND, ngày sinh, thông tin nghề nghiệp. Bên cạnh đó, luật Bảo vệ công bằng tín dụng của Mỹ cấm sử dụng chỉ tiêu giới tính, sắc tộc, quốc tịch hay tình trạng hôn nhân để đánh giá điểm.
Những ngƣời cho vay sẽ báo cáo loại tài khoản vay, ngày khách hàng mở tài khoản, giới hạn tín dụng, dƣ nợ và lịch sử chi trả tín dụng của khách hàng vay. Tuy nhiên, những khách hàng đi vay phải có tài khoản đƣợc mở tối thiểu 6 tháng và có ít nhất một món vay thì mới đƣợc tính điểm. Điểm số FICO thấp nhất là 300 và cao nhất là 850, điểm càng cao thì rủi ro càng thấp và đƣợc xác định theo tỷ trọng của 5 chỉ số theo bảng 1.1: Tỷ trọng các tiêu chí đánh giá trong mô hình FICO Tỷ trọng Tiêu chí đánh giá 35% Lịch sử trả nợ (Payment history): Thời gian trễ hạn càng dài và số tiền trễ hạn càng cao thì điểm số tín dụng càng thấp.