Mở đầu, bài viết trình bày vai trò việc xuất hiện các định 7 chế tài chính trung gian nhƣ các AMC là rất cần thiết cho quá trình cải cách lại tình hình tài chính DN khi gặp khủng hoảng hoặc mất ổn định về kinh tế. Tiếp theo, bài viết nêu lên thành quả đạt đƣợc của Công ty DATC trong kinh doanh nợ và rủi ro trong những năm đầu thành lập. Cuối cùng, bài viết trình bày những khó khăn trƣớc mắt và những triển vọng phát triển trong tƣơng lai của DATC. Đề tài cấp Bộ (2014) “Hoàn thiện cơ chế tài chính trong xử lý nợ xấu ngân hàng thúc đẩy tái cấu trúc doanh nghiệp” của ThS.
Phạm Mạnh Thƣờng cho thấy: thực trạng về thị trƣờng mua bán nợ kể cả thị trƣờng mua bán nợ trong chuẩn (thị trƣờng trái phiếu doanh nghiệp) và thị trƣờng mua bán nợ xấu đều còn chƣa thực sự phát triển ở Việt Nam, công tác xử lý nợ xấu còn nhiều hạn chế, tồn tại. Từ đó đề xuất các giải pháp để thúc đẩy xử lý nợ xấu, một số các giải pháp đề xuất đã đề cập một phần đến việc thúc đẩy phát triển thị trƣờng mua bán nợ ở Việt Nam, tuy nhiên mới chỉ là một trong các giải pháp mang tính chất khơi gợi mà chƣa đƣa ra các bƣớc đi cụ thể. Đề tài nghiên cứu của tác giả Trà Đình Thứ “ Pháp luật hoạt động mua, bán nợ của các TCTD ở Việt Nam” thì xuất phát từ việc nghiên cứu các vấn đề chung về hoạt động mua bán nợ, pháp luật về hoạt động mua bán nợ của các TCTD ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng, tác giả chủ yếu tập trung vào việc đề xuất cho việc hoàn thiện chính sách pháp luật về hoạt động mua, bán nợ của các TCTD trong thời gian tới ở Việt Nam. Bài báo “Mua bán nợ xấu, tái cơ cấu doanh nghiệp: Nhìn từ thực trạng thị trƣờng đến vai trò của DATC” của TS Vũ Sỹ Cƣờng lại nhấn mạnh đến vai trò của thị trƣờng mua bán nợ và tái cơ cấu DN trên cơ sở nghiên cứu số liệu tổng quan về tình hình mua bán nợ xấu phục vụ tái cơ cấu DN.
Từ đó tác giả đƣa ra những đánh giá về hoạt động mua bán nợ xấu phục vụ tái cơ cấu DN và đề xuất một số giải pháp thúc đẩy hoạt động mua bán nợ tái cơ cấu DN 8 trên cơ sở phân tách nhóm giải pháp gián tiếp hỗ trợ DN khách nợ tái cấu trúc và phát triển SXKD thông qua xử lý nợ với nhóm các giải pháp đối với tổ chức xử lý nợ xấu và tái cấu trúc DN. Đóng góp mới của đề tài Đề tài này lần đầu tiên đƣợc nghiên cứu tại Việt Nam. Tuy trƣớc đây có một số đề tài nghiên cứu về mua bán nợ, mua và xử lý nợ xấu, phát triển thị trƣờng mua bán nợ, pháp luật về mua bán nợ tại Việt Nam, xử lý tài sản đảm bảo để đẩy nhanh tốc độ thu hồi nợ …nhƣng các đề tài chỉ nghiên cứu chung, tổng quát chứ không đi sâu phân tích chi tiết từng công đoạn, từng khâu trong quy trình mua bán nợ nhƣ công tác phân tích khách nợ trong quy trình mua nợ để từ đó tìm ra các nhân tố ảnh hƣởng đến tính hiệu quả của các phƣơng án mua bán nợ. Trên cơ sở đó, đề tài này đã đƣa ra những giải pháp, kiến nghị xác đáng, hợp lý, đóng góp cho công tác phân tích khách nợ trong quy trình mua nợ khi xây dựng phƣơng án mua nợ để ra quyết định mua nợ đúng đắn mang lại hiệu quả đầu tƣ cao khi mua một khoản nợ xấu.
Đây là một khâu vô cùng quan trọng trong quy trình mua bán nợ đối với việc đánh giá để ra quyết định mua nợ, một khâu quan trọng trong phát triển thị trƣờng mua bán nợ xấu, góp phần đẩy nhanh tốc độ mua bán nợ xấu, lành mạnh hóa thị trƣờng tài chính, hạn chế tối đa rủi ro trong hoạt động mua bán nợ và mang lại lợi nhuận từ hoạt động đầu tƣ mua bán nợ. Hơn nữa mà còn là cơ sở cho việc quyết định phƣơng án xử lý nợ sau khi mua là bán nợ hay tái cơ cấu hay chứng khoán hóa khoản nợ…sau này. Nếu xây dựng đƣợc một phƣơng thức thực hiện hợp lý, chính xác ở khâu này sẽ góp phần đẩy nhanh tốc độ xử lý nợ xấu trên thị trƣờng tài chính Việt Nam, tạo ra một cơ chế xử lý nợ xấu bền vững cho nền kinh tế Việt Nam. 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH KHÁCH NỢ TRONG QUY TRÌNH MUA NỢ CỦA CÔNG TY MUA BÁN NỢ 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỢ, NỢ XẤU 1. Khái niệm nợ “Nợ là một thuật ngữ thƣờng đƣợc sử dụng trong trƣờng hợp phải thực hiện một nghĩa vụ hoàn trả hay đền bù về tài sản, vật chất. Tuy nhiên, nợ cũng có thể đƣợc sử dụng để chỉ các nghĩa vụ khác. Trong trƣờng hợp nợ tài sản thì nợ là một cách sử dụng sức mua trƣớc khi kiếm đủ tổng số tiền để trả cho sức mua đó.
Các công ty cũng có thể sử dụng nợ nhƣ là một phần trong chiến lƣợc tài chính tổng thể của mình. Nợ, theo cách hiểu thông thƣờng, đƣợc hình thành khi một ngƣời cho vay đồng ý cho ngƣời vay vay một lƣợng tài sản nhất định. Trong xã hội hiện đại, nợ thƣờng đƣợc đi kèm với nguyên tắc hoàn trả, sự đảm bảo khả năng thanh toán với một mức lãi suất nhất định tính theo thời điểm. Với các cơ quan Nhà nƣớc thì nợ phát sinh khi doanh nghiệp không trả các khoản bắt buộc theo luật quy định đầy đủ và kịp thời (tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, thuế).
Với các Doanh nghiệp thì khoản nợ là một cam kết chƣa đƣợc trả, thƣờng bằng tiền mặt khi Doanh nghiệp không trả cho một dịch vụ, hàng hóa hay tài sản đã đƣợc thỏa thuận trƣớc. Với các tổ chức tín dụng, thì nợ bao gồm: Các khoản cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, các khoản bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng(khi ngƣời đi vay kia không trả tiền, ngân hàng sẽ đòi tiền doanh nghiệp) và các hình thức tín dụng khác. Nhƣ vậy, đối với các TCTD, hoạt động tín dụng là rộng hơn hoạt động cho vay. 10 Hàng hóa nợ đƣợc hiểu là quyền của chủ nợ, quyền này là kết quả của hoạt động kinh doanh cốt lõi đầu tiên - cho vay nợ.
Chi tiết của “quyền chủ nợ” đƣợc quy định rõ trong hợp đồng tín dụng và các luật có liên quan - đƣợc xem nhƣ là “mô tả về quy cách chất lƣợng hàng hóa” khi nợ trở thành hàng hóa trên thị trƣờng thứ cấp - thị trƣờng của những ngƣời mua đi bán lại các khoản nợ. Đặc biệt hơn, quyền của chủ nợ là một hàng hóa gắn liền và không thể tách rời với một hoặc nhiều tài sản - thƣờng đƣợc xem là đảm bảo cho khả năng thực hiện nghĩa vụ của khách nợ (nếu có và có thể vô hình hoặc hữu hình). Nhƣ vậy: Hàng hóa nợ = Quyền chủ nợ + Tài sản bảo đảm cho khoản nợ Từ những nghiên cứu trên đây, có thể hiểu: Nợ là nghĩa vụ phải trả bằng tiền hoặc tài sản của cá nhân hoặc tổ chức này (gọi là khách nợ) đối với cá nhân hoặc tổ chức khác (chủ nợ). Nợ có thể có tài sản bảo đảm hoặc không có tài sản bảo đảm.
Khái niệm nợ xấu Nợ xấu hay nợ khó đòi thƣờng đƣợc nhắc đến với các thuật ngữ “bad debt”, “non-performing loan” (NPL), “doubtful debt”. Thuật ngữ “bad debt” là một thuật ngữ đƣợc dùng khá phổ biến trên báo chí còn trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, các chuyên gia thƣờng sử dụng thuật ngữ “non-performing loans” (NPL), trong khi kế toán quốc tế lại hay dùng thuật ngữ “non-accrual loans” (theo hệ thống chuẩn mực kế toán của Mỹ US GAAP) hay “impaired loans” (theo Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 39). Tuy nhiên, hiện nay đang tồn tại khá nhiều khái niệm nợ xấu khác nhau. Có thể nhắc tới một số khái niệm nợ xấu nhƣ sau: - Khái niệm nợ xấu của Việt Nam Định nghĩa nợ xấu của Việt Nam tại Quyết định 493/2005/QĐ-Ngân hàng Nhà nƣớc ngày 22/4/2005 của Ngân hàng Nhà nƣớc nhƣ sau: “Nợ xấu là những 11 khoản nợ đƣợc phân loại vào nhóm 3 (dƣới chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ) và nhóm 5 (có khả năng mất vốn).” Cụ thể nhóm 3 trở xuống gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày, đồng thời tại Điều 7 của Quyết định nói trên cũng quy định các ngân hàng thƣơng mại căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp.
- Khái niệm nợ xấu của Ngân hàng Thế giới (CIEM,2014) Theo khái niệm của Ngân hàng Thế giới thì nợ xấu là các khoản nợ dƣới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều này thƣờng xảy ra khi các con nợ đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản. Nợ xấu gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc thƣờng quá ba tháng căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp. - Khái niệm của nhóm chuyên gia tư vấn Advisory Expert Group (AEG) (CIEM,2014). Nhóm chuyên gia tƣ vấn AEG của Liên Hợp Quốc cho rằng định nghĩa về nợ xấu không nên mang tính chất mô tả mà chỉ nên đƣợc sử dụng nhƣ hƣớng dẫn cho các ngân hàng.
AEG thống nhất định nghĩa nhƣ sau: “Một khoản nợ đƣợc coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chƣa trả từ 90 ngày trở lên đã đƣợc nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dƣới 90 ngày nhƣng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ đƣợc thanh toán đầy đủ”. - Khái niệm nợ xấu của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS) (CIEM,2014). BCBS không đƣa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu. Tuy nhiên, trong các hƣớng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định, việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: Ngân hàng thấy ngƣời vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chƣa thực hiện hành động 12 gì để cố gắng thu hồi; ngƣời vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày.