phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các bảng biểu, danh mục các chữ viết tắt, luận văn gồm có 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng thương mại Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng - Chi nhánh Thăng Long Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng - Chi nhánh Thăng Long 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Huy động vốn của Ngân hàng Thƣơng mại (NHTM) 1. Khái niệm Hệ thống trung gian tài chính nói chung và ngân hàng thương mại nói riêng có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường, là cầu nối giữa các chủ thể trong nền kinh tế, làm cho các chủ thể gắn bó, phụ thuộc lẫn nhau, tăng sự liên kết và năng động của toàn bộ hệ thống. Ngày nay NHTM trở thành định chế tài chính không thể thiếu để vận hành nền kinh tế, riêng hệ thống ngân hàng thương mại Nhà nước còn được coi là “cánh tay đắc lực” của Chính phủ trong thực thi chính sách tiền tệ nhằm thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế v mô, kiềm chế lạm phát và bảo đảm an sinh xã hội của đất nước.
Ở Việt Nam, theo Luật tổ chức tín dụng khoản 1 và khoản 7 Điều 20 đã xác định: "Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung cấp các dịch vụ thanh toán" và trong các loại hình tổ chức tín dụng thì " ngân hàng là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán". Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội. • NHTM thực hiện một số chức năng chính sau: - Chức năng trung gian thanh toán: Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc 8 nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ.
Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… T y theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán ph hợp. Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán d ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn. Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế.
- Chức năng trung gian tín dụng: Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay. - Chức năng tạo tiền: Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của ngân NHTM.
Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc th của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. Ngân hàng thương mại là một tổ chức tín dụng mà các hoạt động của nó chủ yếu là kinh doanh tiền tệ.
9 Huy động vốn của NHTM là giá trị tiền tệ mà các NHTM huy động được trên thị trường thông qua nghiệp vụ tiền gửi, tiền vay và một số nguồn vốn khác. Hoặc có thể hiểu: Vốn huy động là tài sản bằng tiền thuộc sở hữu của các chủ thể trong nền kinh tế (bao gồm cả pháp nhân và thể nhân), được ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng để kinh doanh trong một thời gian xác định sau đó sẽ hoàn trả lại cho chủ sở hữu. Đối với nguồn vốn này, Ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả cho chủ sở hữu cả vốn gốc và lãi khi đến hạn hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút vốn. Vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của NHTM, đóng vai trò quan trọng nhưng cũng không kém phần rủi ro cho NHTM.
Thông thường vốn huy động chiếm tỷ trọng trên 90% tổng nguồn vốn. Do đó hoạt động huy động vốn của ngân hàng càng hiệu quả thì tổng nguồn vốn của ngân hàng sẽ tăng, là tiền đề để tiến hành hoạt động sử dụng vốn. Các hình thức huy động vốn của NHTM 1. Hoạt động tiền gửi Huy động tiền gửi không kỳ hạn Tiền gửi không kỳ hạn còn được gọi là tiền gửi giao dịch, tiền gửi thanh toán.
Đây là hình thức tiền gửi mà khách hàng gửi vào NHTM với mục đích để Ngân hàng thanh toán và thu chi hộ theo yêu cầu của khách hàng. Đặc điểm của loại tiền gửi này là khách hàng có thể rút ra bất cứ lúc nào, hoặc có thể yêu cầu ngân hàng thực hiện thanh toán mà không hạn chế số lần giao dịch. Đây là loại tiền gửi mà chủ tài khoản chủ động và linh hoạt trong thanh toán như lập lệnh chuyển tiền, phát hành séc hoặc các hình thức thanh toán khác như ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu,.tự do rút tiền từ tài khoản mà không cần báo trước hoặc rút tiền tại các máy ATM. Đối với ngân hàng, đây là nguồn vốn huy động có chi phí thấp nhất.
Chính vì vậy, các ngân hàng đều cạnh tranh nguồn vốn này để kinh doanh có hiệu quả cao. Ngoài ra việc thanh toán qua tài khoản, tiền gửi không kỳ hạn còn giúp tăng thu phí dịch vụ cho các NHTM, giảm thiểu rủi ro và thanh toán không d ng tiền mặt trong nền kinh tế. 10 Do khách hàng có thể gửi tiền vào, rút ra và thanh toán chuyển khoản bất kỳ lúc nào nên nguồn vốn này luôn biến động. Tuy nhiên, tại một số thời điểm nhất định khách hàng vẫn luôn duy trì số dư tiền gửi nhất định nên NHTM có thể sử dụng nguồn vốn này cấp tín dụng ngắn hạn nhưng để bảo đảm an toàn thì NHTM thực hiện dự trữ bắt buộc với tỷ lệ cao hơn các loại tiền gửi khác.
Huy động tiền gửi có kỳ hạn Tiền gửi có kỳ hạn (tiền gửi định kỳ) là hình thức tiền gửi huy động các khoản tiền để dành tạm thời chưa sử dụng mà khi gửi vào khách hàng chỉ được rút ra sau một khoản thời gian nhất định. Tiền gửi này chủ yếu do các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức kinh tế,.có khoản tiền nhàn r i, chưa có nhu cầu sử dụng ngay (chủ yếu với mục đích dự phòng và an toàn). Đặc điểm: - Với hình thức gửi tiền này, khách hàng chỉ được rút tiền sau một kỳ hạn nhất định, tuy nhiên trong trường hợp bình thường ngân hàng vẫn cho khách hàng rút tiền trước hạn với điều kiện chỉ được hưởng lãi suất không kỳ hạn. - Đây là nguồn vốn tương đối ổn định nên được các ngân hàng sử dụng không chỉ để cấp tín dụng ngắn hàng mà còn được sử dụng để cấp tín dụng trung dài hạn.
- Tiền gửi định kỳ có chi phí sử dụng vốn khá cao. Người gửi tiền có kỳ hạn nhằm vì mục đích hưởng lãi nên lãi suất cao, hấp dẫn là công cụ đòn bẩy để NHTM huy động nguồn vốn này. Chính vì điều này nên nếu có sự biến động của lãi suất sẽ ảnh hưởng rất nhanh đến việc huy động vốn của ngân hàng. Huy động tiền gửi tiết kiệm Tiền gửi tiết kiệm là hình thức huy động vốn chủ yếu khoản tiền để dành của cá nhân được gửi vào ngân hàng với mục đích sinh lời và an toàn về tài sản.
Đây là loại tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn tại các NHTM. Có 2 hình thức tiền gửi tiết kiệm: - Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: là hình thức tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền được rút ra bất kỳ lúc nào mà không cần báo trước trong giờ làm việc của tổ chức tín dụng nhận tiền gửi. Loại tiền gửi này có lãi suất thấp giống như tiền gửi không kỳ hạn. 11 - Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: là hình thức tiền gửi tiết kiệm rất phổ biến và quen thuộc mà người gửi tiền chỉ được rút ra sau một kỳ hạn nhất định.
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn có thể phân thành nhiều loại theo kỳ hạn ngày, tuần, tháng.