đặt vấn đề tăng trưởng kinh tế thường gắn liền với việc giải quyết vấn đề xã hội, như giảm tỷ lệ thất nghiệp, giảm tỷ lệ đói nghèo. Điều này, xác định vai trò quan trọng của NHCSXH. Vai trò này được thực hiện qua vai trò của tín dụng chính sách xã hội. Qua hoạt động cho vay chính sách xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu của Chính phủ vì sự phát triển cân đối của nền kinh tế và vì một xã hội ổn định, dân giàu, nước mạnh.
Trong thực tiễn cuộc sống phát triển của xã hội loài người, sự phân hoá giàu nghèo đã diễn ra liên tục trong lịch sử, theo qui luật tự nhiên tiến trình phát triển của lực lượng sản xuất, đòi hỏi quan hệ sản xuất cũng phải thay đổi theo để phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Đối với các đối tượng chính sách xã hội như: Người nghèo; học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn; người có nhu cầu việc làm…thì tín dụng chính sách tạo hiệu quả hơn so với phương thức cấp phát vốn. Sở dĩ như vậy là vì: - Do việc chuyển tải vốn được thực hiện theo phương thức cho vay có hoàn trả nên nguồn vốn được người sử dụng vốn tính toán hiệu quả; vốn được sử dụng quay vòng nhiều lần, giúp nhiều người được hưởng lợi. Mặt khác, người vay vốn tìm cách sử dụng vốn vào mục đích sản xuất kinh doanh, tạo ra thu nhập để cải thiện đời sống và trả được nợ.
12 - Vốn cho vay giúp người vay vốn khắc phục tư tưởng tự ti, ỷ lại khi nhận vốn cấp phát; tự nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh của mình, tạo tiền đề hoà nhập sản xuất hàng hoá thị trường. Đương nhiên điều này không có nghĩa là không cần tới phương thức cấp phát. Nhà nước vẫn cần phải có các giải pháp đầu tư cấp phát các công trình cơ sở hạ tầng, phúc lợi công cộng, tạo điều kiện cho các đối tượng chính sách xã hội tiếp cận với nền sản xuất hàng hoá. Tuy nhiên, sử dụng phương pháp cho vay có hoàn trả tỏ ra ưu việt so với phương thức cấp phát, cho không.
Cho vay chính sách có ý nghĩa to lớn đối với sự tồn tại và phát triển của các khu vực sản xuất, các doanh nghiệp cần sự hỗ trợ, phát triển trong lĩnh vực tài chính công. Trên thực tế, có những ngành, những doanh nghiệp mà bản thân hoạt động không có lãi nhưng lại rất cần cho sự phát triển chung của xã hội, đòi hỏi Nhà nước phải có sự trợ giúp thông qua việc cho vay vốn với điều kiện ưu đãi. Cho vay chính sách còn tạo tiền đề cho các vùng kinh tế kém phát triển do môi trường và điều kiện tự nhiên khắc nghiệt có điều kiện tiếp cận với nền kinh tế thị trường. Ở Việt Nam, vai trò của NHCSXH được thể rõ nét trong Nghị định 78/NĐ- CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ.
NHCSXH có vai trò quan trọng trong công cuộc xoá đói giảm nghèo là công cụ của Chính phủ để tập trung huy động mọi nguồn lực tài chính trong và ngoài nước đầu tư cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác theo quy định của Chính phủ giúp họ có vốn sản xuất kinh doanh, làm ăn hiệu quả xoá đói giảm nghèo vươn lên hoà nhập cộng đồng. Thông qua hoạt động của NHCSXH nâng cao uy tín của Nhà nước, của Chính phủ và thể hiện được bản chất ưu việt của chế độ đối với hộ nghèo và cộng đồng chính sách khác, thực hiện công bằng và ổn định xã hội [8]. Khái niệm và đặc điểm cho vay ủy thác 1. Khái niệm cho vay ủy thác 13 - Cho vay là mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả vốn gốc và lãi cho bên chuyển giao tiền và tài sản vô điều kiện theo thời hạn đã thoả thuận.
- Khái niệm cho vay ưu đãi: Cho vay ưu đãi của ngân hàng là quan hệ kinh tế giữa ngân hàng với các khách hàng là đối tượng chính sách, trong đó ngân hàng chuyển giao tiền cho khách hàng trong một thời gian nhất định với những thoả thuận hoàn trả cả gốc và lãi (ưu đãi) trong một thời gian nhất định giữa khách hàng và ngân hàng. - Cho vay ủy thác là việc ngân hàng uỷ quyền cho tổ chức tín dụng hay tổ chức chính trị xã hội thực hiện toàn bộ hoặc một phần công việc trong quy trình nghiệp vụ cho vay ủy thác của ngân hàng với một mức phí nhất định được thoả thuận giữa ngân hàng và các tổ chức tín dụng hay tổ chức chính trị xã hội. Đặc điểm Loại hình cho vay này có những đặc trưng riêng biệt đó là: - Tài sản giao dịch chỉ là tiền mặt để cho các đối tượng chính sách vay. - Người đi vay vốn không phải thế chấp tài sản làm đảm bảo tiền vay.
- Món vay nhỏ, lẻ. - Lãi suất ưu đãi thấp hơn lãi suất trên thị trường tín dụng thương mại. Cho vay ủy thác đối với hộ nghèo thông qua các tổ chức chính trị xã hội 1. Quan điểm về hộ nghèo Quá trình phát triển xã hội loài người, nghèo đói và phát triển luôn là hai vấn đề có mối quan hệ mật thiết với nhau trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia.
Điều này càng rõ nét khi nền kinh tế thị trường phát triển. Giáo sư Dudley Seers đã đặt ra những câu hỏi cơ bản về ý nghĩa sự phát triển của một nước: “Điều gì đã và đang xảy ra với tình trạng nghèo đói, thất nghiệp và bất bình đẳng? Nếu cả ba hiện tượng trên đều giảm đáng kể, thì rõ ràng đây là một giai đoạn phát triển của đất nước đó. Nếu một hoặc hai trong số những vấn đề trọng tâm này lại trở 14 nên trầm trọng hơn đặc biệt nếu cả ba đều xấu đi, thì sẽ là điều kì quặc nếu ai đó gọi tình trạng này là “phát triển”, cho dù thu nhập bình quân đầu người có tăng gấp đôi đi chăng nữa” [15]. Do vậy, nếu chỉ quan tâm đến tăng trưởng kinh tế đơn thuần mà không quan tâm đúng mức đến giải quyết nghèo đói và các vấn đề xã hội thì không tạo được sự phát triển bền vững.
Đồng thời bản thân tình trạng nghèo đói và các vấn đề xã hội cũng làm chậm lại tốc độ tăng trưởng kinh tế và giải quyết công bằng xã hội. Song quá nhấn mạnh đến giải quyết nghèo đói và vấn đề xã hội thì sẽ không ưu tiên được phát triển kinh tế một cách đúng mức. Vì vậy, giải quyết hai vấn đề sao cho hài hoà là vấn đề có tính chiến lược của mỗi quốc gia. Nghèo đói là vấn đề có tính chất toàn cầu, tồn tại ở tất cả các quốc gia và vùng lãnh thổ.
Tuy nhiên, ở các nước khác nhau, với trình độ phát triển kinh tế – xã hội khác nhau thì nghèo đói cũng khác nhau và thường là các biện pháp giải quyết nghèo đói khác nhau. Nghèo ở các nước phát triển thì có tính chất tương đối. Tức là thu nhập của hộ nghèo thấp so với mặt bằng thu nhập chung của xã hội và có khoảng cách xa so với người giàu. Ngay từ tháng 9/1993, Hội nghị các nước khu vực Châu Á-Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức ở Bangkok bàn về giảm đói nghèo đã đưa ra khái niệm và định nghĩa đói nghèo như sau: "Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế-xã hội và phong tục tập quán của các địa phương" [20].
Quan niệm cơ bản xác định đói nghèo là ở chỗ con người không được hưởng và thoả mãn điều thiết yếu, tối thiểu để duy trì sự tồn tại của con người như ăn, mặc, ở. Theo đó sự nghèo đói tuyệt đối, sự bần cùng được biểu hiện là đói. Đói nghèo là một khái niệm có tính động, biến đổi, di chuyển chứ không tĩnh. Những nhân tố tạo nên đặc điểm này của hiện tượng nghèo đói là: Sự phát triển của sản xuất, mức tăng trưởng kinh tế, sự tăng lên của nhu cầu con người (cả nhu cầu tồn tại sinh học lẫn nhu cầu phát triển chất lượng xã hội của con người), 15 những biến đổi của xã hội (xét trên bình diện quốc gia, dân tộc lẫn khu vực và quốc tế).
Thực tế cho thấy các chỉ số xác định đói nghèo và giàu nghèo luôn thay đổi. Ở một thời điểm, với một vùng, một nước nào đó thì chỉ số đo được là đói, nghèo hoặc giàu nhưng sang một thời điểm khác, so sánh với một vùng khác, nước khác, cộng đồng dân cư khác thì chỉ số đo đó có thể mất ý nghĩa. Từ cách hiểu chung này cần thấy sự khác biệt về mức độ đói nghèo có tính chất địa phương và khu vực. Trong xã hội hiện đại ngày nay, những thành tựu mới về khoa học kỹ thuật, công nghệ và chính con người đã tạo ra một khối lượng của cải vật chất khổng lồ bằng của nhiều thế kỷ trước cộng lại.
Và chính kỹ thuật công nghệ đang chắp cánh cho con người vươn tới những vì sao xa xôi; đã giúp con người khám phá thế giới đầy bí ẩn, tạo cho chất lượng cuộc sống của con người thực sự được cải thiện. Tuy nhiên, bức tranh của thế giới hiện nay phản ánh một trật tự thế giới đầy bất công, hai thái cực giàu nghèo đến mức nghiệt ngã, tình trạng cùng cực đang đè nặng lên 2/3 dân số thế giới. Tăng trưởng kinh tế như một dòng chảy liên tục, càng về sau khối lượng của cải vật chất do tăng trưởng kinh tế đem lại càng lớn, nhưng chính vấn đề nghèo đói là một trong số những vấn đề toàn cầu đã buộc loài người phải nhìn nhận lại rằng tăng trưởng kinh tế và phát triển là hai khái niệm không đồng nhất. Sự tăng trưởng nếu không đem lại những dấu hiệu tích cực trong phát triển bền vững sẽ dẫn đến mâu thuẫn.
Thực tế ở một số quốc gia cho thấy: kinh tế càng phát triển nhanh bao nhiêu, năng suất lao động càng cao bao nhiêu thì tình trạng nghèo đói của một bộ phận dân cư lại càng bức xúc bấy nhiêu, dẫn đến việc xảy ra những xung đột xã hội, chính trị và cao hơn nữa là xung đột giai cấp, xung đột sắc tộc.