CHƯƠNG I : TỔNG QUAN CÁC LOẠI BÀN PHÍM TƯƠNG TÁC 1. Giới thiệu chung. Ngày nay với sự ra đời của rất nhiều thiết bị điện tử, các sản phẩm công nghệ ngày càng hiện hữu nhiều hơn trong đời sống của chúng ta. Để giao tiếp cũng như sử dụng được các sản phẩm đó chúng ta cần một thiết bị ngoại vi mà ở đó thể hiện được các mệnh lệnh cũng mong muốn của người sử dụng.
Thiết bị đó là bàn phím tương tác. Phân loại bàn phím tương tác. Bàn phím là một thiết bị ngoại vi được mô hình một phần theo bàn phím máy đánh chữ. Về hình dáng, bàn phím là sự sắp đặt các nút, hay phím.
Một bàn phím thông thường có các ký tự được khắc hoặc in trên phím; với đa số bàn phím, mỗi lần nhấn một phím tương ứng với một ký hiệu được tạo ra. Tuy nhiên, để tạo ra một số ký tự cần phải nhấn và giữ vài phím cùng lúc hoặc liên tục; các phím khác không tạo ra bất kỳ ký hiệu nào, thay vào đó tác động đến hành vi của máy tính hoặc của chính bàn phím. Hình 1-1 Hình ảnh bàn phím cây ATM thường dùng. Bàn phím thường.
Bàn phím máy tính. Bàn phím máy tính xách tay. Bàn phím không dây. Bàn phím không dây là bàn phím sử dụng sóng để kết nối không dây như bluetooth, sóng radio hoặc hồng ngoại.
Bàn phím không dây. Bàn phím cảm ứng. Bàn phím cảm ứng dùng trong cây ATM. Bàn phím ảo Một bàn phím truyền thống dù gắn với máy tính để bàn hay là một phần của chiếc laptop thì nó cũng hoạt động như một chiếc máy tính nhỏ.
Nếu mở nó ra, bạn sẽ thấy một bộ xử lý và một bảng mạch tương tự như bên trong chiếc máy tính của bạn. Bên dưới mỗi phím là một lưới mạch, mỗi khi nhấn phím thì công tắc sẽ đóng lại và truyền một dòng điện nhỏ qua lưới, được bộ xử lý nhận diện và phân tích. Đến lượt mình, bộ 10 xử lý lại gửi thông tin về phím gõ này về máy tính, có thể bằng nhiều cách như thông qua dây cáp nối với máy tính để bàn, hoặc qua công nghệ không dây như Bluetooth, hoặc kết nối trực tiếp như bàn phím laptop. Trong khi đó, khi bạn gõ lên bàn phím ảo, sẽ không có mạch điện nào được đóng mở cả, vì không có bộ phận cơ học chuyển động nào.
Bàn phím laser ảo Laser virtual keyboard hoặc Bluetooth laser virtual keyboard hoặc Virtual Projection Keyboard là một vài tên gọi phổ biến của loại bàn phím này. Khi hoạt động, nó phóng ra một bản phác họa bàn phím QWERTY kích thước tiêu chuẩn bằng tia laser, một bộ cảm biến quang học theo dõi các chuyển động ngón tay của người dùng khi gõ phím, kết nối Bluetooth cho phép nó đồng bộ không dây với hầu hết các thiết bị thông minh. Cơ cấu hoạt động của bàn phím laser ảo: Mặc dù bàn phím laser ảo có cùng chức năng như bàn phím truyền thống, nhưng cách mà chúng phân tích và gửi dữ liệu tới thiết bị hiển thị lại khác hẳn về quy trình. Về cơ bản thì tất cả các bàn phím dù ảo hay thực đều là những thiết bị nhập liệu đầu vào (input devices) – khi ta gõ một dãy ký tự tức là ta đang ra lệnh cho bàn phím gửi lệnh tới máy tính.
Điều này cho phép chúng ta "viết" vào một văn bản, đóng một chương trình hay gõ địa chỉ URL của một website vào trình duyệt. Nhưng vẫn có điểm khác biệt giữa bàn phím ảo laser và bàn phím thực. Bàn phím ảo dùng tia laser 11 Thiết bị tạo ra bàn phím ảo bằng cách sử dụng một đèn diode laser đỏ chiếu hình ảnh của một bàn phím QWERTY lên một mặt phẳng không phản quang. Đèn laser này cũng tương tự như loại đèn chiếu laser rẻ tiền mà khán giả tại các buổi biểu diễn rock vẫn cầm để huơ lên.
Nó chiếu sáng qua một bộ phận gọi là Phân tử quang nhiễu xạ DOE (Diffractive Optical Element) mà thực chất là một hình ảnh bàn phím thu nhỏ. DOE cùng với một số loại thấu kính quang học đặc biệt sẽ phóng to hình ảnh lên kích thước thích hợp và chiếu lên mặt phẳng. Nhưng nếu chỉ có hình ảnh bàn phím thì chưa đủ, thiết bị này còn có một bộ phận để phân tích thông tin mà bạn gõ vào. Nằm gần đáy của thiết bị này là một diode laser hồng ngoại (IR), nó phóng ra một lớp hồng ngoại mỏng trùng khít với hình ảnh bàn phím nói trên.
Mặt phẳng hồng ngoại này vô hình với mắt người, bạn không nhìn thấy được nó, nhưng nó nằm song song bên dưới hình ảnh bàn phím, chỉ cách vài mm. Khi bắt đầu gõ, bạn sẽ đè tay lên một số vùng trên mặt phẳng hồng ngoại đó. Một bộ cảm biến CMOS (complimentary metal-oxide semiconductor) sẽ thu hình vị trí ngón tay của bạn đặt trên vùng bàn phím, và một chip cảm biến đặc biệt có tên là Nhân xử lý giao diện ảo (Virtual Interface Processing Core) sẽ phân tích vị trí của phím gõ. Cuối cùng, thiết bị sẽ gửi thông tin tới máy tính bằng công nghệ Bluetooth để hiển thị trên màn hình.
Ý tưởng về bàn phím ảo chiếu bằng tia laser lên bất kỳ mặt phẳng nào chắc chắn đã xuất hiện từ khá lâu trong các bộ phim giả tưởng, còn trên thực tế, chúng đã được hiện thực hóa từ vài năm nay. Đã có một số nhà sản xuất bán ra loại bàn phím ảo này trên thị trường và công nghệ này vẫn đang tiếp tục được hoàn thiện. 12 Bàn phím ảo laser có thể sử dụng với hầu hết các thiết bị cần nhập văn bản, trong đó chủ yếu là điện thoại thông minh hoặc PDA, máy tính bảng, trong các trường hợp cần nhập văn bản dài sẽ giúp tăng tốc độ cũng như giảm thời gian nhập liệu. Tuy nhiên, mặc dù rất gọn nhẹ để bạn có thể mang theo bất cứ đâu, bàn phím này không thể hoạt động chính xác nếu bạn không tìm được một mặt phẳng đủ tốt để chiếu bàn phím ảo lên, hoặc khi di chuyển trên đường thì sự rung lắc của phương tiện vận chuyển chắc chắn cũng không cho phép bạn gõ phím đúng.
Ví dụ như bạn đang ở trên xe buýt và muốn soạn nhanh một bức email trên chiếc BlackBerry của mình, bạn không thể chiếu tia laser đỏ lên đùi và mong nó hoạt động tốt được. Bàn phím laser ảo cần một mặt phẳng chắn sáng và không phản xạ thì mới có thể chiếu đèn và sử dụng được. Sau khi đã đặt bàn phím của mình lên đúng mặt phẳng cần thiết, thiết bị này mới hiển thị một bàn phím QWERTY đầy đủ kích cỡ, chứa 60 phím trở lên. Sau đó bạn có thể gõ bất kỳ thứ gì mình muốn như trên một bàn phím thông thường, mặc dù cảm giác mà bạn vẫn hay gặp khi gõ laptop – tiếng lách cách mỗi khi một phím được nhấn xuống – sẽ không xuất hiện.
Một vấn đề khác nữa là giá bán các thiết bị bàn phím ảo này còn cao, cho nên hiện tại nó chỉ được quan tâm bởi những người thích khám phá công nghệ và dư giả tiền bạc. 13 CHƯƠNG II : XỬ LÝ ẢNH TRÊN MATLAB 2. Giới thiệu về xử lý ảnh. Hiện nay nó đang là một trong những lĩnh lực được quan tâm và đã trở thành môn học chuyên ngành của sinh viên hệ kỹ sư, cử nhân ngành công nghệ thông tin.
Nhận dạng và xử lý ảnh là một trong những lĩnh vực có nhiều ứng dụng trong thực tiễn như: hệ thông tin địa lý, quân sự, y học. Cụ thể, xử lý ảnh số có rất nhiều ứng dụng như: - Làm nổi các ảnh trong y học. - Khôi phục lại ảnh do tác động của khí quyển trong thiên văn học. - Chuyển tải, nén ảnh khi truyền đi xa hoặc lưu trữ.
- Sản xuất và kiểm tra chất lượng - Di chuyển của Robot - Các phương tiện đi lại tự trị - Công cụ hướng dẫn cho người mù - An ninh và giám sát - Nhận dạng đối tượng, nhận dạng mặt - Ứng dụng trong y học - Sản xuất, hiệu chỉnh Video - Chinh phục vũ trụ. Mô tả các bước cụ thể trong xử lý ảnh dưới đây: 14 Hình 2-1. Các bước cơ bản trong xử lý ảnh Hình 2-2. Các bước trong xử lý ảnh.
Phần thu nhận ảnh. Ảnh có thể nhận qua camera màu hoặc đen trắng. Thường ảnh nhận qua camera là ảnh tương tự (loại camera ống chuẩn CCIR với tần số 1/25, mỗi ảnh 25 dòng), cũng có loại camera đã số hoá (như loại CCD – Change Coupled Device) là loại photodiot tạo cường độ sáng tại mỗi điểm ảnh. Camera thường dùng là loại quét dòng, ảnh tạo ra có dạng hai chiều.
Chất lượng một ảnh thu nhận được phụ thuộc vào thiết bị thu, vào môi trường (ánh sáng, phong cảnh). Tiền xử lý ảnh. Sau bộ thu nhận, ảnh có thể nhiễu độ tương phản thấp nên cần đưa vào bộ tiền xử lý để nâng cao chất lượng. Chức năng chính của bộ tiền xử lý là lọc nhiễu, nâng độ tương phản để làm ảnh rõ hơn, nét hơn.
Phân đoạn (Segmentation) hay phân vùng ảnh. 15 Phân vùng ảnh là tách một ảnh đầu vào thành các vùng thành phần để biểu diễn phân tích, nhận dạng ảnh. Ví dụ: để nhận dạng chữ (hoặc mã vạch) trên phong bì thư cho mục đích phân loại bưu phẩm, cần chia các câu, chữ về địa chỉ hoặc tên người thành các từ, các chữ, các số (hoặc các vạch) riêng biệt để nhận dạng. Đây là phần phức tạp khó khăn nhất trong xử lý ảnh và cũng dễ gây lỗi, làm mất độ chính xác của ảnh.
Kết quả nhận dạng ảnh phụ thuộc rất nhiều vào công đoạn này. Biểu diễn ảnh (Image Representation). Đầu ra ảnh sau phân đoạn chứa các điểm ảnh của vùng ảnh (ảnh đã phân đoạn) cộng với mã liên kết với các vùng lận cận. Việc biến đổi các số liệu này thành dạng thích hợp là cần thiết cho xử lý tiếp theo bằng máy tính.
Việc chọn các tính chất để thể hiện ảnh gọi là trích chọn đặc trưng (Feature Selection) gắn với việc tách các đặc tính của ảnh dưới dạng các thông tin định lượng hoặc làm cơ sở để phân biệt lớp đối tượng này với đối tượng khác trong phạm vi ảnh nhận được. Ví dụ: trong nhận dạng ký tự trên phong bì thư, chúng ta miêu tả các đặc trưng của từng ký tự giúp phân biệt ký tự này với ký tự khác. Nhận dạng và nội suy ảnh (Image Recognition and Interpretation). Nhận dạng ảnh là quá trình xác định ảnh.
Quá trình này thường thu được bằng cách so sánh với mẫu chuẩn đã được học (hoặc lưu) từ trước.