Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HỆ THỐNG HOÁ PHÁP LUẬT VÀ PHÁP LUẬT HẢI QUAN ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ THƯƠNG MẠI 1. Hệ thống hoá pháp luật 1. Khái niệm hệ thống hoá pháp luật Trong khoa học pháp lý, hệ thống hoá pháp luật được hiểu là hoạt động hệ thống, sắp xếp, chỉnh lý, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật theo một trật tự nhất định nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tra cứu và áp dụng pháp luật. Đồng thời thông qua công tác hệ thống hoá pháp luật cũng cho phép các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có được sự nhìn nhận, đánh giá tổng quát về thực trạng hệ thống pháp luật hiện hành, kịp thời phát hiện những quy định không phù hợp, mâu thuẫn, chồng chéo hoặc thiếu tính khả thi của hệ thống pháp luật nhằm tiến tới mục tiêu hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Từ khái niệm này đã thể hiện khá rõ nét đặc điểm của công tác hệ thống hoá pháp luật không chỉ đơn thuần dừng lại ở việc tập hợp, sắp xếp cơ học các văn bản quy phạm pháp luật, mà còn là một hoạt động trí tuệ thông qua việc đối chiếu, so sánh, chỉnh lý, bổ sung nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật. Đây là một công việc vô cùng phức tạp, đặc biệt là ở Việt Nam, với một khối lượng văn bản quy phạm pháp luật đồ sộ; với trình độ lập pháp, lập quy còn nhiều hạn chế dẫn đến thực trạng tồn tại nhiều mâu thuẫn, chồng chéo giữa các văn bản pháp luật diễn ra khá phổ biến. Thực trạng này đòi hỏi công tác hệ thống hoá pháp luật phải được thực hiện cẩn trọng và có thể mất rất nhiều thời gian. Kinh nghiệm thực hiện công tác hệ thống hoá pháp luật ở Hoa Kỳ và một số quốc gia Châu Âu cho thấy để hoàn thành một bộ pháp điển quốc gia thông thường phải mất từ vài năm đến vài chục năm.
Cá biệt như Hoa Kỳ, 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sau hơn 85 năm thực hiện bộ pháp điển quốc gia (US.code), chỉ mới có 26 trong tổng số 50 chủ đề được chính thức hoá 1. Điều này đã phần nào nói lên tính chất phức tạp của công tác pháp điển hoá nói riêng và hệ thống hoá pháp luật nói chung. Ở Việt Nam, thực tiễn đã chứng minh công tác hệ thống hoá pháp luật đã được thực hiện từ rất lâu, chứ không chỉ mới phát sinh trong nền pháp lý hiện đại. Sự ra đời của các bộ luật Hình Thư (triều Lý), Hồng Đức (triều hậu Lê) và Gia Long (Hoàng Việt Luật Lệ, triều Nguyễn) đều được đánh giá là có sự tham chiếu, tiếp thu và chỉnh sửa, bổ sung các quy định pháp luật trước đó, mà một phần quan trọng là pháp luật của các triều đại phong kiến Trung Hoa 2.
Điều này đã thể hiện rất rõ công tác hệ thống hoá pháp luật ở nước ta đã hình thành, phát triển rất sớm và song hành cùng công tác lập pháp từ các triều đại phong kiến cho đến thời điểm hiện tại. Do ảnh hưởng của các yếu tố về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội,… và trình độ pháp lý của mỗi thời kỳ, nhất là ý chí của nhà cầm quyền mà công tác hệ thống hoá pháp luật có thể được thực hiện theo những định hướng khác nhau. Tuy nhiên, suy cho cùng thì công tác hệ thống hoá pháp luật, dù được thực hiện dưới hình thức nào, ở bất kỳ thời điểm nào, cũng nhằm mục đích xây dựng và hoàn thiện một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh, dẫn dắt các quan hệ xã hội diễn biến theo ý chí của Nhà nước. Đây cũng là một biểu hiện của bản chất giai cấp – một bản chất cố hữu của pháp luật.
Hình thức thực hiện hệ thống hoá pháp luật Ở Việt Nam, công tác hệ thống hoá pháp luật được thực hiện chủ yếu thông qua hai hình thức: tập hợp hoá và pháp điển hoá. Cả hai hình thức đều là những hoạt động phức tạp, tỉ mỉ và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Tập hợp hoá: là hoạt động sắp xếp các văn bản quy phạm pháp luật 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hoặc các quy phạm pháp luật riêng biệt theo một trật tự nhất định, có thể theo trình tự thời gian ban hành, theo vần chữ cái hoặc theo từng vấn đề, thậm chí theo một trật tự khác tuỳ thuộc vào chủ thể tiến hành tập hợp 3 (ví dụ tập “Hệ thống hoá luật lệ hình sự”, tập “Hệ thống hoá luật lệ dân sự” do Toà án nhân dân Tối cao thực hiện trước đây). Hoạt động này không làm thay đổi nội dung văn bản pháp luật, không bổ sung những quy định mới mà chỉ nhằm loại bỏ các quy phạm pháp luật đã hết hiệu lực.
Do vậy, hình thức tập hợp hoá chưa giải quyết được vấn đề chỉnh sửa và loại bỏ những quy phạm pháp luật mâu thuẫn, chồng chéo với các văn bản quy phạm pháp luật cấp trên, cũng như chưa trực tiếp đóng góp vào quá trình chỉnh lý và hoàn thiện pháp luật, mà chỉ mới dừng lại ở việc tạo điều kiện thuận lợi để phục vụ công tác tra cứu và áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật. Pháp điển hoá: là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, trong đó, không những chỉ tập hợp các văn bản quy phạm pháp luật đã có theo một trình tự nhất định, loại bỏ các quy phạm pháp luật lỗi thời, mâu thuẫn hoặc chồng chéo, mà còn bổ sung các quy phạm pháp luật mới để thay thế cho các quy phạm pháp luật đã bị loại bỏ, khắc phục những lỗ hổng đã được phát hiện, nhằm nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật và tăng cường hiệu lực pháp lý của chúng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội 4. Từ khái niệm trên, ta thấy công tác pháp điển hoá được thực hiện qua ba giai đoạn: Giai đoạn 1: sắp xếp các văn bản quy phạm pháp luật hay các quy phạm pháp luật theo một trật tự nhất định tuỳ theo mục đích của chủ thể thực hiện. Giai đoạn 2: rà soát, đối chiếu, so sánh giữa các quy phạm phạm pháp luật nhằm tìm ra sự khác biệt, mẫu thuẫn giữa quy phạm cấp dưới và quy phạm cấp trên; phát hiện những quy định pháp luật không còn phù hợp hoặc 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thiếu tính khả thi hoặc những lỗ hổng pháp lý do thiếu sót những quy phạm pháp luật điều chỉnh đối với một, một số quan hệ xã hội nhất định, nhất là những quan hệ xã hội mới phát sinh.
Giai đoạn 3: sửa đổi, bổ sung các thiếu sót đã được phát hiện, nhằm đảm bảo xây dựng một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật đảm bảo tính thống nhất, minh bạch, hiểu quả và khả thi. Như vậy, pháp điển hoá là hình thức phức tạp hơn rất nhiều so với công tác tập hợp hoá. Nếu tập hợp hoá chỉ đơn thuần là việc sắp xếp các văn bản quy phạm pháp luật một cách có hệ thống, theo một trật tự nhất định thì đặc trưng của pháp điển hoá thể hiện ở việc chỉnh lý, bổ sung nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật. Kết quả của công tác pháp điển hoá có thể cho ra đời một văn bản quy phạm pháp luật mới nhằm hoàn thiện và thay thế cho các quy phạm pháp luật về cùng một lĩnh vực, một vấn đề mà trước đó được quy định rải rác trong nhiều văn bản, ở nhiều cấp độ khác nhau.
Chính vì vậy, pháp điển hoá có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động xây dựng, thực hiện và bảo vệ pháp luật. Trong khoa học pháp lý, pháp điển hóa được phân chia thành hai hình thức: pháp điển hóa về mặt nội dung và pháp điển hóa về mặt hình thức. Pháp điển hóa về mặt nội dung: (hay còn được gọi theo các cách gọi khác nhau như: pháp điển hóa lập pháp, pháp điển hóa truyền thống, pháp điển hóa có tạo ra quy phạm mới,…) là việc xây dựng, soạn thảo một văn bản pháp luật mới trên cơ sở hệ thống, tập hợp, rà soát, sắp xếp các quy định ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật hiện hành vào văn bản đó với sự sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn. Việc xây dựng các bộ luật của nước ta như Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, Bộ luật lao động,… đều được thực hiện theo hình thức pháp điển này.
Cách thức pháp điển này giống như hoạt động lập pháp thông thường. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Pháp điển hóa về mặt hình thức: (còn được gọi là pháp điển hóa không làm thay đổi nội dung văn bản) là cách thức tập hợp, sắp xếp các quy phạm pháp luật đang có hiệu lực tại nhiều văn bản khác nhau thành Bộ pháp điển theo từng chủ đề và theo một trật tự nhất định, với bố cục logic, phù hợp, có thể kèm theo những sửa đổi, điều chỉnh cần thiết nhằm làm cho các quy định này phù hợp với nhau. Về nguyên tắc, quá trình sửa đổi, điều chỉnh trong hoạt động pháp điển hóa hình thức chỉ nhằm mục đích tạo nên sự hài hòa giữa các quy định, đảm bảo trật tự của Bộ pháp điển mà không nhằm tới mục đích tạo ra những chính sách, văn bản quy phạm pháp luật mới và các quy định pháp luật đang có hiệu lực được tôn trọng tối đa. Ở nước ta, công tác pháp điển hóa hình thức chưa được chính thức thực hiện.
Tuy nhiên, ngày 16 tháng 4 năm 2012 Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật (có hiệu từ ngày 01 tháng 7 năm 2012), đây là cơ sở pháp lý để chúng ta tiến hành xây dựng Bộ pháp điển trong thời gian tới. Chủ thể và trình tự thực hiện hệ thống hoá pháp luật Xuất phát từ bản chất và đặc điểm khác nhau của mỗi hình thức hệ thống hoá pháp luật dẫn đến chủ thể thực hiện cũng có sự khác nhau. Vì tính chất đơn giản hơn và mục đích chỉ đơn thuần tạo điều kiện thuận lợi cho việc tra cứu, áp dụng văn bản quy phạm pháp luật mà chủ thể thực hiện công tác tập hợp hoá rất đa dạng, có thể là cơ quan Nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp, hoặc thậm chí có thể là cá nhân. Trình tự thực hiện tập hợp hoá cũng không bị ràng buộc bởi bất kỳ một quy định pháp lý nào, ngoại trừ nguyên tắc chủ thể tập hợp hoá phải đảm bảo tính chính xác tuyệt đối của nội dung các văn bản quy phạm pháp luật.