Tổng quan nghiên cứu

Lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn có tổng lượng mưa trung bình hàng năm đạt 30,7 tỷ m3 nước, sinh ra dòng chảy mặt khoảng 21,5 tỷ m3 trên diện tích tự nhiên rộng lớn cùng dải bờ biển dài 150 km kéo dài từ Cửa Hàn đến Cửa Kỳ Hà. Mặc dù sở hữu trữ lượng tài nguyên nước mặt phong phú, khu vực hạ lưu thuộc địa phận thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam đang phải đối mặt với tình trạng xâm nhập mặn diễn biến đặc biệt phức tạp vào mùa kiệt. Điển hình trong giai đoạn 2012 - 2015, hiện tượng nhiễm mặn nghiêm trọng đã khiến Nhà máy nước Cầu Đỏ (công suất cấp nước đô thị trên 120.000 m3/ngày) phải ngừng lấy nước trực tiếp và vận hành trạm bơm thô từ đập An Trạch liên tục trong 268 ngày. Cùng với đó, nguồn nước tưới cho 5.800 ha đất canh tác nông nghiệp của 13 trạm bơm ven sông bị đe dọa trực tiếp, làm gián đoạn nghiêm trọng nhiều vụ sản xuất vụ hè thu.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá toàn diện diễn biến xâm nhập mặn vùng hạ lưu sông Vu Gia - Thu Bồn trong thời kỳ 2000 - 2015, đồng thời xác lập cơ sở khoa học để thiết lập mạng lưới quan trắc và hệ thống phần mềm giám sát mặn tự động theo thời gian thực. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ mạng lưới sông vùng hạ du chịu ảnh hưởng triều hai đầu từ Cửa Hàn và Cửa Đại. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc nâng cao độ chính xác của các bản tin cảnh báo thiên tai, giảm thiểu 100% tình trạng bị động trong vận hành công trình khai thác nước và bảo đảm an ninh nguồn nước sinh hoạt cho hơn 1,2 triệu người dân đô thị cùng các vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng thủy động lực học dòng chảy một chiều không ổn định kết hợp lý thuyết truyền tải - khuếch tán chất trong môi trường nước. Hệ phương trình Saint-Venant (bao gồm phương trình liên tục và phương trình động lượng) được sử dụng để mô tả các đặc trưng thủy lực dòng chảy dưới tác động tương hỗ giữa xả lũ thượng nguồn và dao động mực nước triều ven biển.

Phương trình truyền tải - phân tán vật chất (Advection - Dispersion) một chiều được áp dụng để mô phỏng sự lan truyền của độ muối hòa tan theo không gian và thời gian dọc theo các nhánh sông. Khung lý thuyết làm rõ bốn khái niệm cốt lõi:

  • Độ mặn ($S‰$): Tổng lượng muối khoáng rắn tính bằng gam hòa tan trong 1 kg nước sông biển, trong đó 11 ion chính chiếm tới 99,99%.
  • Ranh giới độ mặn 1‰ và 4‰: Ngưỡng giới hạn tiêu chuẩn phục vụ cho việc cấp nước sinh hoạt đô thị và tưới tiêu nông nghiệp.
  • Hệ số phân tán dòng chảy ($D$): Tham số biểu thị mức độ xáo trộn vật chất dưới tác động của dòng chảy không đồng nhất và ma sát đáy.
  • Chế độ dao động triều hỗn hợp: Sự tương tác giữa bán nhật triều không đều tại Cửa Hàn (biên độ triều cực đại 1,40 m) và nhật triều không đều tại Cửa Đại (biên độ triều cực đại 1,56 m).

Toàn bộ khung thuật toán được giải số bằng mô hình thủy lực thương mại MIKE 11 (mô đun HD kết hợp AD) sử dụng sơ đồ sai phân ẩn 6 điểm Abbott-Ionescu với độ ổn định và độ tin cậy khoa học cao.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu đầu vào của đề tài bao gồm chuỗi quan trắc khí tượng thủy văn chuẩn hóa tại 14 trạm khí tượng (giai đoạn 1980 - 2015), 10 trạm thủy văn hải văn đại diện (như Nông Sơn, Thành Mỹ, Ái Nghĩa, Câu Lâu, Cẩm Lệ, trạm triều Sơn Trà) và dữ liệu độ mặn thực đo tại 7 trạm đo định kỳ cùng 3 điểm đo mặn chuyên dùng của ngành nông nghiệp và cấp nước từ năm 2000 đến năm 2016. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm hàng chục nghìn điểm đo liên tục được kiểm định chất lượng và đồng bộ hóa thời gian. Phương pháp chọn mẫu tập trung vào các đợt kiệt lịch sử và các chuỗi số liệu quan trắc chuyên đề chi tiết trong mùa kiệt các năm 2015 và 2016.

Lý do lựa chọn phương pháp mô hình hóa số trị MIKE 11 HD+AD là do khả năng giải quyết vượt trội đối với mạng lưới sông ngòi hạ lưu có hình thái phân lưu, hợp lưu phức tạp và chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ thủy triều từ hai cửa sông khác nhau. Độ chính xác của mô hình được kiểm nghiệm chặt chẽ qua chỉ số hiệu quả Nash-Sutcliffe và hệ số tương quan $R^2$ giữa quá trình mực nước, độ mặn tính toán với số liệu thực đo tại các trạm then chốt như Cổ Mân, Hội An, Câu Lâu và Ái Nghĩa. Toàn bộ tiến trình nghiên cứu được triển khai chặt chẽ qua ba bước từ thu thập, chỉnh lý số liệu, thiết lập mô hình hiệu chỉnh kiểm định đến đề xuất giải pháp công nghệ giám sát.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình mô phỏng số trị và phân tích số liệu thực đo đã chỉ ra các quy luật xâm nhập mặn nổi bật tại hạ lưu hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn:

Thứ nhất, mức độ xâm nhập mặn vào mùa kiệt diễn ra vô cùng sâu và nghiêm trọng. Trong mùa kiệt năm 2015, khoảng cách lan truyền mặn lớn nhất vào trong sông ứng với ngưỡng độ mặn 1‰ lên tới gần 23,0 km và ứng với ngưỡng 4‰ là trên 19,0 km. Bước sang năm 2016, chiều dài xâm nhập mặn tiếp tục duy trì ở mức cao với khoảng cách 23,2 km đối với ranh mặn 1‰ và 19,3 km đối với ranh mặn 4‰ dọc theo tuyến sông Vu Gia.

Thứ hai, nghiên cứu phát hiện sự bất cân đối cực đoan trong chế độ dòng chảy năm. Khoảng 60% đến 70% tổng lượng dòng chảy tập trung trong 3 tháng mùa lũ (tháng 10 đến tháng 12), trong khi 9 tháng mùa kiệt chỉ chiếm từ 25% đến 40% lượng nước cả năm. Đặc biệt, tổng lượng dòng chảy trong 2 thời kỳ kiệt nhất (tháng 3 - 4 và tháng 7 - 8) chỉ chiếm vỏn vẹn 2,0% đến 2,5% tổng lượng nước năm, khiến mô đun dòng chảy kiệt giảm sâu xuống mức 4 - 6 l/s.km2, tạo điều kiện cho sóng triều mang độ mặn cao từ biển xâm lấn sâu vào lòng sông.

Thứ ba, sự suy giảm dòng chảy mùa kiệt kết hợp với việc tích nước của 62 dự án thủy điện thượng nguồn (tổng công suất 1.639 MW) đã phá vỡ hoàn toàn quy luật tự nhiên. Minh chứng rõ nét là độ mặn tại cửa lấy nước Nhà máy nước Cầu Đỏ vào tháng 12/2012 đã đạt mức 6,5‰ (vượt gấp 6,5 lần quy chuẩn cấp nước sinh hoạt), xuất hiện dị thường ngay trong giai đoạn vốn là mùa mưa lũ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng xâm nhập mặn gia tăng bắt nguồn từ sự kết hợp bất lợi giữa các yếu tố tự nhiên và nhân sinh. Về mặt tự nhiên, vùng hạ lưu sông có độ dốc đáy sông rất nhỏ, trong khi chênh lệch pha triều giữa Cửa Hàn và Cửa Đại tạo nên động lực đẩy mặn mạnh mẽ dọc theo các phân lưu như sông Vĩnh Điện và sông Cẩm Lệ. Về mặt nhân sinh, quy trình vận hành chưa tối ưu của 10 công trình thủy điện lớn trên bậc thang Vu Gia - Thu Bồn (với tổng công suất 1.134 MW) cùng việc khai thác nước gia tăng tại hạ du đã làm suy giảm đáng kể lưu lượng đẩy mặn tối thiểu.

Dữ liệu mô phỏng xâm nhập mặn đã được trực quan hóa chi tiết thông qua các biểu đồ đường quá trình diễn biến độ mặn theo thời gian thực, bảng thống kê chỉ số Nash (đạt độ tin cậy cao trên 0,80) và bản đồ đẳng trị mặn không gian. Khi so sánh với Đồng bằng sông Cửu Long (nơi mặn truyền sâu 50 - 70 km theo các trục sông chính nhưng biên độ biến đổi tương đối bằng phẳng), hạ lưu Vu Gia - Thu Bồn có chiều dài sông ngắn hơn nhưng biên độ mặn biến động theo chu kỳ triều nhanh gấp 1,5 lần, đòi hỏi hệ thống giám sát phải có tần suất đo đạc dày đặc hơn. Ý nghĩa của phát hiện này khẳng định tính cấp thiết phải chuyển đổi phương thức giám sát từ thủ công gián đoạn sang tự động hóa số liệu liên tục.

Đề xuất và khuyến nghị

Trên cơ sở kết quả tính toán mô hình thủy lực và thực trạng khai thác nguồn nước, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể:

  • Thiết lập mạng lưới quan trắc mặn tự động: Đầu tư xây dựng bổ sung 9 trạm đo độ mặn tự động thời gian thực tại các vị trí xung yếu (bao gồm trạm bơm Tứ Câu, Ái Nghĩa, Cẩm Lệ, Vĩnh Điện, Nhà máy nước Cầu Đỏ, Câu Lâu...). Hệ thống sử dụng cảm biến đo độ dẫn điện truyền dữ liệu liên tục 15 phút/lần về trung tâm điều hành. Chỉ số mục tiêu là kiểm soát 100% biến động mặn tại các cửa lấy nước. Thời gian hoàn thành trong giai đoạn 2018 - 2020 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam phối hợp thực hiện.
  • Phát triển phần mềm WebGIS giám sát cảnh báo trực tuyến: Xây dựng nền tảng WebGIS hiển thị bản đồ số, tự động đánh dấu cảnh báo màu đỏ khi nồng độ muối vượt ngưỡng 1‰ và phát bản tin dự báo trước 6 đến 12 giờ cho các đơn vị quản lý. Chỉ số mục tiêu là giảm 90% thời gian trễ trong việc ra quyết định điều hành lấy nước. Thời gian triển khai trong vòng 12 tháng do các trung tâm dữ liệu khí tượng thủy văn và công nghệ thông tin phụ trách.
  • Điều chỉnh quy trình vận hành liên hồ chứa thủy điện: Ban hành quy định bắt buộc đối với các nhà máy thủy điện bậc thang thượng lưu xả nước duy trì dòng chảy môi trường tối thiểu tại trạm Ái Nghĩa không thấp hơn 30 m3/s trong các tháng kiệt cao điểm (tháng 3 đến tháng 8). Thời gian áp dụng thường niên dưới sự giám sát của Ủy ban Quản lý lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn và Bộ Tài nguyên và Môi trường.
  • Nâng cấp và vận hành linh hoạt hệ thống công trình ngăn mặn: Duy trì hiệu quả của các đập dâng hiện hữu như đập An Trạch, đập Bàu Nít, đập Bích Bắc, kết hợp đắp đập tạm Tứ Câu và Cầu Đen khi mặn vượt ngưỡng 1‰ nhằm bảo vệ an toàn nguồn nước tưới cho 5.800 ha đất canh tác nông nghiệp. Thời gian thực hiện trước mỗi vụ sản xuất do các Công ty Khai thác Công trình Thủy lợi địa phương chủ trì.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và ứng dụng chuyên sâu cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước và phòng chống thiên tai: Bao gồm Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn các tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học chuẩn xác để xây dựng quy hoạch phân bổ tài nguyên nước, thẩm định cấp phép khai thác nước mặt và xây dựng phương án ứng phó hạn mặn mùa khô.
  • Các doanh nghiệp cấp nước đô thị và công ty khai thác công trình thủy lợi: Điển hình như Công ty Cổ phần Cấp nước Đà Nẵng (Dawaco) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khai thác Thủy lợi Quảng Nam. Dữ liệu mô hình giúp tối ưu hóa lịch trình bơm nước thô, chủ động đóng mở cống ngăn mặn và bảo vệ an toàn công suất cấp nước 120.000 m3/ngày.
  • Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Thủy văn học, Kỹ thuật Tài nguyên nước: Tài liệu là tài liệu tham khảo mẫu mực về quy trình thiết lập, hiệu chỉnh và kiểm định mô hình số trị MIKE 11 HD+AD trên mạng lưới sông ngòi phức hợp ven biển miền Trung.
  • Các kỹ sư công nghệ và chuyên gia tư vấn chuyển đổi số ngành môi trường: Cung cấp sơ đồ kiến trúc và giải pháp tích hợp phần mềm WebGIS với trạm đo cảm biến IoT phục vụ hiện đại hóa hệ thống cảnh báo thiên tai theo thời gian thực.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính khiến Nhà máy nước Cầu Đỏ bị nhiễm mặn nghiêm trọng trong mùa kiệt là gì? Hiện tượng này xuất phát từ việc suy giảm dòng chảy tự nhiên trên sông Vu Gia (lưu lượng tháng kiệt chỉ chiếm 2,0 - 2,5% cả năm), kết hợp với thủy điện thượng nguồn tích nước và triều cường từ Cửa Hàn đẩy mặn sâu 23,2 km, khiến độ mặn tại cửa lấy nước có thời điểm vượt mức 6,5‰.

Mô hình MIKE 11 HD+AD đóng vai trò gì trong việc giải quyết bài toán mặn tại lưu vực Vu Gia - Thu Bồn? Mô hình giải quyết đồng thời bài toán thủy lực 1 chiều và phương trình truyền tải - phân tán chất hòa tan bằng sơ đồ ẩn 6 điểm Abbott, cho phép mô phỏng chính xác ranh mặn 1‰ và 4‰ trên toàn bộ mạng lưới sông phức tạp với độ tin cậy Nash đạt trên 0,80.

Sự khác biệt về chế độ triều giữa Cửa Hàn và Cửa Đại ảnh hưởng như thế nào đến xâm nhập mặn? Cửa Hàn mang đặc trưng bán nhật triều không đều (biên độ lớn nhất 1,40 m) trong khi Cửa Đại mang đặc trưng nhật triều không đều (biên độ lớn nhất 1,56 m). Sự lệch pha triều này tạo ra dao động mực nước liên tục hai đầu sông Vĩnh Điện, thúc đẩy mặn lan truyền nhanh và sâu hơn vào nội đồng.

Hệ thống giám sát mặn thời gian thực trên WebGIS mang lại lợi ích cụ thể nào? Hệ thống nhận dữ liệu tự động từ các trạm đo mỗi 15 phút, tự động phân tích và trực quan hóa bản đồ nồng độ muối, giúp cơ quan điều hành nhận thông báo cảnh báo sớm trước 6 - 12 giờ để kịp thời chuyển đổi nguồn lấy nước thô an toàn.

Biện pháp nào được xem là cấp bách nhất để bảo vệ nguồn nước tưới 5.800 ha nông nghiệp hạ lưu? Giải pháp cấp bách là đắp các đập tạm ngăn mặn (như đập Tứ Câu, đập Cầu Đen) kết hợp vận hành tiếp nước bổ sung qua sông Bà Rén và yêu cầu các hồ chứa thủy điện thượng nguồn xả lưu lượng duy trì dòng chảy môi trường đạt tối thiểu 30 m3/s trong suốt vụ sản xuất hè thu.

Kết luận

  • Đánh giá toàn diện bức tranh xâm nhập mặn giai đoạn 2000 - 2015 trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn, xác định rõ mùa kiệt kéo dài 9 tháng chỉ đóng góp 25% đến 40% tổng dòng chảy năm, tạo điều kiện cho mặn xâm nhập sâu bất thường.
  • Thiết lập thành công mô hình toán MIKE 11 HD+AD mô phỏng chính xác quá trình lan truyền mặn, chỉ ra phạm vi xâm nhập mặn lớn nhất năm 2016 đối với ranh 1‰ đạt 23,2 km và ranh 4‰ đạt 19,3 km.
  • Đề xuất giải pháp khoa học mang tính đột phá thông qua mạng lưới 9 trạm quan trắc tự động kết hợp nền tảng phần mềm WebGIS giám sát và cảnh báo mặn thời gian thực.
  • Xác lập cơ chế phối hợp vận hành điều tiết xả dòng chảy tối thiểu của 62 dự án thủy điện thượng nguồn (tổng công suất 1.639 MW) nhằm bảo đảm an toàn nguồn nước sinh hoạt 120.000 m3/ngày và 5.800 ha đất nông nghiệp.
  • Định hướng lộ trình hoàn thiện công nghệ từ năm 2018 đến 2020 với việc triển khai lắp đặt thiết bị cảm biến và tích hợp hệ thống cảnh báo sớm vào cổng thông tin điều hành phòng chống thiên tai cấp vùng.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã giải quyết trọn vẹn bài toán từ lý thuyết mô hình hóa số trị đến giải pháp công nghệ thực tiễn, tạo bước ngoặt trong quản lý bền vững tài nguyên nước hạ lưu sông Vu Gia - Thu Bồn. Các cơ quan quản lý nhà nước và đơn vị khai thác tài nguyên nước cần nhanh chóng ứng dụng khung giải pháp này vào thực tiễn để bảo đảm an ninh nguồn nước bền vững trước thách thức biến đổi khí hậu.