CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA GIAO THOA KẾ Giao thoa là một hiện tượng mà trong đó hai song ánh sang đơn sắc được tách ra từ một nguồn phát chồng chất lên nhu tại một điểm gây lên hiện tượng giao thoa, từ đó thu được thông tin về sóng và các hệ thống vật lý liên quan. Giao thoa kế là thiết bị đo lường được phát triển dựa trên hiện tượng giao thoa đã liên tục được sử dụng và nghiên cứu hơn 130 năm qua kể từ thí nghiệm đầu tiên của Michelson năm 1887. Kỹ thuật này ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền công nghiệp và khoa học hiện đại, tiên tiến, đặc biệt trong các lĩnh vực đo đòi hỏi phạm vi đo rộng, độ chính xác và ổn định cao, đối tượng đo rất lớn hoặc rất nhỏ như: sợi quang học, công nghệ bán dẫn, quy trình sản suất LCD, công nghệ vi cơ điện tử (MEMS), thiên văn học, cơ học lượng tử hay vật lý hạt plasma… Bắt nguồn từ giao thoa kế Michelson, đã có rất nhiều phương pháp, phiên bản khác nhau được phát triển hoạt động dựa trên nguyên lý chung về áp dụng hiện tượng giao thoa để đo độ dịch chuyển. Những giao thoa kế hiện đại gần đây đều sử dụng laser làm nguồn phát bởi độ chính xác vốn có của nó, đặc biệt là nguồn laser có thể đáp ứng nhiều yêu cầu quang học và đo lường như hiệu suất cao, kích thước nhỏ gọn hay khả năng điều hướng tần số lớn.
Trong các kỹ thuật giao thoa, giao thoa 1 tần số được phát triển đầu tiên, và đã đo được độ dịch chuyển với độ phân giải 0.025μm được công bố bởi Barker và Hollenbach năm 1965 [1]. Ưu điểm của giao thoa kế một tần số là thiết kế đơn giản, sử dụng các nguồn laser thông thường và có tốc độ đo cao, tuy nhiên lại yêu cầu độ ổn định cường độ cao đối với nguồn laser cũng như độ ổn định của môi trường hơn nữa ta lại không thể xác định được chiều dịch chuyển. Tiếp theo sau đó kỹ thuật giao thoa 2 tần số có thể khắc phục được những nhược điểm của kỹ thuật đã được phát triển vào năm 1979 bởi Massie [2]. 1 Những ưu điểm của giao thoa kế hai tần số có thể liệt kê như phạm vi đo lớn, xác định chiều chuyển động của đối tượng đo, loại bỏ ảnh hưởng của sự thay đổi cường độ của nguồn laser ở tần số thấp, ít nhạy với sự thay đổi của môi trường.
Nhược điểm của giao thoa hai tần số là yêu cầu đặc biệt về nguồn laser, phát đồng thời hai tần số, giá thành cao hơn so với loại giao thoa kế một tần số. Ngoài 2 kỹ thuật trên, kỹ thuật điều biến tín hiệu (điều biến pha [3], điều biến tần số [4] [5]) là kỹ thuật xử lý tín hiệu phù hợp nhất với những phép đo yêu cầu độ chính xác cao, khoảng đo rộng mà vẫn đạt được tốc độ cao.1 Cơ sở toán học của hiện tượng giao thoa Trước hết chúng ta biết rằng năm 1801 Thomas Young lần đầu tiên chứng minh bằng thưc nghiệm rằng: Hai chum tia sang có thể giao thoa với nhau. Điều này cho thấy được bản chất song của ánh sáng.1 Hai sóng W1 và W2 giao thoa với nhau Hiện tượng giao thoa xảy ra khi hai sóng ánh sáng đơn sắc và kết hợp gặp nhau tại một điểm (phát ra từ 2 nguồn kết hợp S1 S 2 như hình 1. Trong thực tế, hai sóng ánh sáng phải phát từ hai nguồn sáng giống hệt nhau, thường người ta sử dụng hai sóng được tách từ cùng một nguồn phát sáng.
Chùm laser là sự lan truyền bức xạ điện từ trường trong không gian, hình 1. Cường độ điện trường tại một điểm vuông góc với phương truyền sóng của bức xạ laser đơn sắc, phân cực thẳng, được biểu diễn như sau [6] : ] ) = ()[ (, (1.1) 2 Trong đó () là biên độ điện trường, là tần số của bức xạ, λ là bước sóng của bức xạ, n là chiết suất của môi trường truyền sóng, r là vector vị trí, c=3.108 m/s là vận tốc của bức xạ lan truyền trong không gian. Tần số của bức xạ laser trong vùng nhìn thấy (≈6. 1014 Hz) là rất cao, vượt qua khả năng thu nhận của các loại cảm biến quang học.
Do đó muốn sử dụng laser trong các phép đo dịch chuyển hay độ dài cần loại bỏ hoặc làm giảm thành phần tần số cao khỏi tín hiệu đo. Đây chính là cơ sở của phương pháp đo độ dài bằng giao thoa kế.2 Lan truyền của bức xạ laser trong không gian Hình 1.3 Chồng chất của 2 sóng tại 1 điểm trên phương truyền sóng Xét trường hợp hai nguồn sáng điểm, đơn sắc, cùng tần số, S1 và S2 lan truyền trong môi trường đồng nhất, hình 1. Tại điểm P xảy ra hiện tượng chồng chất của 2 sóng từ S 1 và S2. Theo phương trình 1.1, bức xạ điện trường 3 tại P do S 1 và S2 truyền đến được biểu diễn như sau: (, ) = () ] [ (1.3) Trong đó , lần lượt là khoảng cách từ S1 và S 2 đến P.
Cường độ bức xạ tổng hợp tại P tỉ lệ với bình phương điện trường và được tính như sau (, ) + (, ) =( , ) + (, ) = |()|+ |()| + 2|()|| ()|cos 2 = + + 2 cos 2 , = + + 2 cos () (1.4) Trong đó = |()|, = |()| , = 2 là độ lệch pha giữa hai sóng. Phương trình 1.4 chỉ ra rằng cường độ của tín hiệu giao thoa là tổng cường độ của các sóng thành phần cộng với thành phần cường độ biến đổi theo ( )giữa hai sóng, hình 1. độ lệch pha hay hiệu quang lộ Hình 1.4 Cường độ của tín hiệu giao thoa thay đổi theo độ lệch pha giữa 2 sóng 4 1.2 Đo độ dịch chuyển bằng giao thoa kế 1.1 Giao thoa kế Michelson Cho đến nay, giao thoa kế Michelson được dùng phổ biến trong lĩnh vực đo lường độ dài vì độ chính xác, ổn định và đơn giản của nó. Sơ đồ nguyên lí của giao thoa kế Michelson được thể hiện trong hình 1.
Một chùm tia chuẩn trực từ nguồn sáng được chia thành hai chùm tia với lệ bằng nhau, một chùm tia phản xạ bởi lăng kính và chùm còn lại đi qua lăng kính. Cả hai chùm tia bị phản xạ bởi các gương đặt vuông góc với phương lan truyền của ánh sáng và kết hợp lại tại lăng kính chia chùm. Tại đây chúng giao thoa với nhau và tín hiệu giao thoa này được thu nhận nhờ cảm biến quang biến quang. Một gương trong giao thoa kế có thể dịch chuyển chính xác dọc theo phương lan truyền ánh sáng và do đó có thể thay đổi quãng đường quang học giữa nó và lăng kính.
Khi gương động dịch chuyển, cường độ của tín hiệu giao thoa thu bởi cảm biến cũng thay đổi theo. Sự thay đổi cường độ giao thoa theo vị trí của gương hay hiệu quang lộ giữa hai nhánh tạo thành đồ thị giao thoa mà từ đó phổ của chùm tia đi vào có thể được xác định. Gương tĩnh ΔL/2 Nguồn sáng ZPD BS Gương động Cảm biến Hình 1.5 Sơ đồ giao thoa kế Michelson Cường độ điện trường của bức xạ điện từ trường đơn sắc lan truyền trong không gian được biểu diễn như sau: 5 ) = [ ] (1.7) Trong đó ( ), () lần lượt là biên độ của điện trường trong nhánh chuẩn và nhánh đo, là thời gian trễ giữa nhánh đo và nhánh chuẩn do quãng đường lan truyền của bức xạ trong hai nhánh là khác nhau. Do vậy độ trễ được tính như sau [7]: .8) Với n, lần lượt là chiết suất môi trường và hiệu quang lộ giữa hai nhánh của giao thoa kế.
Trong trường hợp của giao thoa kế Michelson dùng gương phẳng, hiệu quang lộ giữa hai nhánh bằng hai lần vị trí từ gương động đến điểm cân bằng (ZPD) (hình 1. Khi hai sóng kết hợp tại lăng kính chia chùm, chúng lan truyền theo cùng một hướng và có cùng phân cực, điện trường tổng hợp tại điểm chồng chất sẽ là: = (, ) + (, ) (1.9) Bởi vì hai chùm tia được tách từ cùng một nguồn nên có cùng tần số. Cường độ của tín hiệu giao thoa tại điểm chồng chất trên phương lan truyền sóng được tính như sau: ( ( = ( , ) + (, ) , ) + , ) . Trong trường hợp lí tưởng khi lăng kính Trong đó , chia chùm tia bức xạ ban đầu thành hai chùm tia có cường độ bằng nhau khi đó = = /2.
Chiết suất của không khí n=1. Phương trình (1.10) được rút gọn như phương trình sau: = 1 + cos 2 = 1 + cos 2 (1. Phương trình (1.11) chỉ ra rằng cường độ của tín hiệu giao thoa sử dụng nguồn bức xạ đơn sắc thay đổi theo hàm sin của hiệu quang lộ giữa hai nhánh của giao thoa kế (hình 1. Cường độ giao thoa này hoàn toàn độc lập với thời gian và do đó được thể hiện trong miền không gian.6 Cường độ của tín hiệu giao thoa khi gương động dịch chuyển đều Cường độ tín hiệu giao thoa lớn nhất khi (1.12) Và cường độ tín hiệu nhỏ nhất khi 1 (1.13) = +2 Với m là số nguyên, m=1,2,3….8 biểu diễn sự thay đổi cường độ 7 của tín hiệu giao khi gương động dịch chuyển bằng số lẻ lần nửa bước sóng ngược pha (hai nhánh đồng pha dao động ngược pha, hình 1.7) và số nguyên lần bước sóng (hai nhánh đồng pha dao động đồng pha, hình 1.7 Cường độ của tín hiệu giao thoa 2 nhánh ngược pha Hình 1.8 Cường độ của tín hiệu giao thoa 2 nhánh đồng pha 1.2 Giao thoa kế 2 tần số Trong đo lường độ dài, dịch chuyển các giao thoa thoa kế sử dụng nguồn một tần số được phát triển trước tiên.
Ưu điểm của giao thoa kế một tần số là 8 thiết kế đơn giản, sử dụng các nguồn laser thông thường. Hơn nữa giao thoa kế một tần số có tốc độ đo cao bởi vì sự thay đổi pha của tín hiệu giao thoa, gây ra bởi dịch chuyển của đối tượng đo, được chuyển đổi trực tiếp thành sự thay đổi cường độ thu được nhờ cảm biến.