Hậu Quả Chiến Tranh Hóa Học Do Hoa Kỳ Gây Ra Ở Việt Nam (1961 – 2017)

Tài liệu nghiên cứu Hậu quả chiến tranh hóa học do hoa kỳ gây ra ở việt nam 1961 2017, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về hóa học.

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp đại học

2019

110
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

0.3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu

0.4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

0.5. Đóng góp của đề tài

0.6. Bố cục

1. CHƯƠNG 1: CUỘC CHIẾN TRANH HÓA HỌC DO HOA KỲ GÂY RA Ở VIỆT NAM (1961-1971)

1.1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ

1.2. MỤC ĐÍCH HOA KỲ SỬ DỤNG CHẤT ĐỘC HÓA HỌC

1.2.1. Về quân sự

1.2.2. Về kinh tế

1.3. QUÁ TRÌNH SỬ DỤNG CHẤT ĐỘC HÓA HỌC

1.3.1. Thời gian bắt đầu đến kết thúc

1.3.2. Các phương thức phun rải

1.3.3. Lượng chất độc hóa học đã sử dụng

1.4. CÁC KHU VỰC BỊ ẢNH HƯỞNG CHẤT ĐỘC HÓA HỌC

1.4.1. Khu vực bị phun rải

1.4.2. Khu vực kho chứa

1.5. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: HẬU QUẢ CHIẾN TRANH HÓA HỌC DO HOA KỲ GÂY RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM TRONG VÀ SAU CHIẾN TRANH (1961-2017)

2.1. HẬU QUẢ CHIẾN TRANH HÓA HỌC DO HOA KỲ GÂY RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM (1961-1975)

2.1.1. Về kinh tế

2.1.2. Về người

2.1.3. Về giáo dục – y tế

2.1.4. Gây hậu quả về môi trường

2.1.4.1. Môi trường đất, nước
2.1.4.2. Môi trường động vật
2.1.4.3. Môi trường thực vật

2.2. HẬU QUẢ CỦA CHIẾN TRANH HÓA HỌC DO HOA KỲ GÂY RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM (1975-2017)

2.2.1. Về kinh tế

2.2.2. Về người

2.2.3. Về giáo dục – y tế

2.2.4. Gây hậu quả về môi trường

2.2.4.1. Môi trường đất, nước
2.2.4.2. Môi trường động vật
2.2.4.3. Môi trường thực vật

2.3. Nhận xét về hậu quả chiến tranh hóa học do Hoa Kỳ gây ra ở Việt Nam (1961-2017)

2.3.1. Cuộc chiến tranh hóa học do Hoa Kỳ gây ra ở Việt Nam là cuộc chiến tranh hóa học lớn nhất trong lịch sử nhân loại

2.3.2. Hoa Kỳ phải chịu trách nhiệm chính về hậu quả của chiến tranh hóa học

2.3.3. Gây ra hậu quả nặng nề nhiều mặt không chỉ trong chiến tranh mà còn dai dẳng sau đó

2.3.4. Hậu quả về người là nghiêm trọng nhất, khó khắc phục nhất

2.3.5. Khắc phục hậu quả da cam/dioxin phức tạp cần sự nỗ lực của Việt Nam và sự hỗ trợ của quốc tế

2.4. Tiểu kết chương 2

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Hậu Quả Chiến Tranh Hóa Học tại Việt Nam 1961 2017

Cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) là một trong những cuộc chiến tốn kém và kéo dài nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Để giành thắng lợi, Hoa Kỳ đã sử dụng nhiều thủ đoạn và phương tiện chiến tranh hiện đại, trong đó có chất độc hóa học (CĐHH). Cuộc chiến tranh hóa học do Hoa Kỳ tiến hành ở Việt Nam là cuộc chiến có quy mô lớn nhất, dài ngày nhất và gây ra thảm họa da cam khủng khiếp nhất trong lịch sử loài người. Hoa Kỳ đã biến Việt Nam trở thành phòng thí nghiệm khổng lồ để nghiên cứu thử nghiệm các loại chất độc. Chiến tranh kết thúc hơn 40 năm nhưng Việt Nam vẫn phải khắc phục những di chứng, vết thương chiến tranh do sự tàn phá khốc liệt. CĐHH đã gây ra hậu quả to lớn, hủy hoại môi trường, hệ sinh thái, ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe người dân Việt Nam, cả cựu binh Hoa Kỳ và quân đồng minh. Chất độc hóa học cũng gây ra hậu quả nghiêm trọng về kinh tế xã hội, để lại những dư chấn tâm lý kéo dài.

1.1. Mục Đích Nghiên Cứu Hậu Quả Chất Độc Hóa Học

Nghiên cứu hậu quả chiến tranh hóa học do Hoa Kỳ gây ra ở Việt Nam có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc. Thứ nhất, góp phần làm sáng tỏ tính chất của cuộc chiến tranh, về tinh thần kháng chiến oanh liệt của dân tộc để giành thắng lợi trọn vẹn, thống nhất đất nước. Thứ hai, dựng lại những hậu quả của cuộc chiến tranh hóa học để rút ra nhận xét, đánh giá khách quan về những tác động chất độc hóa học đến kinh tế, xã hội, môi trường Việt Nam. Thứ ba, vấn đề khắc phục hậu quả về kinh tế, xã hội, môi trường vẫn còn một khoảng trống lớn. Thứ tư, góp phần làm sáng tỏ một phần quan trọng của lịch sử, những kinh nghiệm trong quá trình khắc phục hậu quả sẽ góp phần phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế, xã hội và hội nhập hiện nay.

1.2. Tổng Quan Các Nghiên Cứu Về Chất Độc Da Cam ở Việt Nam

Nhiều vấn đề liên quan đến hậu quả chất độc hóa học ở Việt Nam đã được các nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu, một số công trình đã được công bố. Ở trong nước đi đầu trong nghiên cứu về hậu quả của chất độc hóa học phải kể đến các tác giả Lê Cao Đài, với công trình nghiên cứu “Chất da cam trong chiến tranh Việt Nam” xuất bản vào năm 1999. Cuốn sách phản ánh kết quả nghiên cứu nghiêm túc về chất da cam của nhiều nhà khoa học Việt Nam thực hiện trong hoàn cảnh khó khăn cùng với sự hợp tác của nhà nghiên cứu nước ngoài. Tác giả giới thiệu kiến thức cơ bản về chất dioxin và các hợp chất hữu quan: độc tính của chất dioxin, vòng chu chuyển của chất dioxin từ thiên nhiên, môi trường vào cơ thể con người, hậu quả của chiến tranh hóa học đối với thiên nhiên, con người, các biện pháp giải quyết hậu quả chiến tranh hóa học.

II. Lý Do Hoa Kỳ Sử Dụng Chiến Tranh Hóa Học Tại Việt Nam

Từ lâu Hoa Kỳ đã có âm mưu xâm lược Việt Nam, muốn biến miền Nam Việt Nam trở thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ quân sự của Hoa Kỳ và ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam và khu vực. Vì vậy, Hoa Kỳ đã ngày càng can thiệp sâu vào cuộc chiến tranh Đông Dương bằng cách chi viện cho Pháp và từng bước thay chân Pháp ở Đông Dương. Từ sau hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, Hoa Kỳ dựng lên chính phủ thân Hoa Kỳ do Ngô Đình Diệm đứng đầu, đây là bước đầu cho quá trình can dự trực tiếp của Hoa Kỳ ở Việt Nam. Cùng với sự giúp đỡ của lực lượng cách mạng miền Bắc Việt Nam, phong trào cách mạng miền Nam Việt Nam phát triển nhanh chóng. Để duy trì sự tồn tại của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, Hoa Kỳ đã đề ra những chiến lược mới để ngăn chặn phong trào cách mạng của nhân dân Việt Nam, ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào cách mạng miền Nam bằng chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”.

2.1. Mục Tiêu Quân Sự Của Hoa Kỳ Khi Sử Dụng CĐHH

Tại viện nghiên cứu chiến tranh War Research Service ở Hoa Kỳ các nhà khoa học đã nghiên cứu được rất nhiều các loại chất khác nhau, đặc biệt là hợp chất 2,4- D và 2,4,5-T được coi là thành phần có chứa chất phát quang. Trong cuộc diễn tập phá hủy cây trồng được diễn ra ở Fort Drum ở New York năm 1959 của cơ quan Fort Dietrick tổ chức, đã thử nghiệm rải, hợp chất Butylester 2,4-D và 2,4,5-T xuống nơi có diện tích là 4 dặm vuông, cuộc diễn tập đã đem lại kết quả khả thi. Vì vậy, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đã ra chỉ thị phê chuẩn đề án rải chất phát quang xuống khu vực miền Nam Việt Nam.

2.2. Chi Tiết Về Chiến Dịch Bàn Tay Dài Của Quân Đội Hoa Kỳ

Chiến dịch sử dụng chất độc hóa học tại chiến trường miền Nam đã được quân đội Hoa Kỳ đặt tên với mật danh là: “Chiến dịch bàn tay dài” chiến dịch này được Hoa Kỳ công bố chính thức kết thúc vào năm 1972. Cũng trong thời gian này không quân Hoa Kỳ cũng đã thử nghiệm phun rải ở một số khu vực và đã mang lại hiệu quả cao theo đánh giá của Hoa Kỳ. Chính quyền của Ngô Đình Diệm và Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đã ủng hộ kế hoạch này mặc dù lo ngại phản ứng của quốc tế. Để hợp lý hoá hành động tàn bạo, Hoa Kỳ đã quy hoạch tất cả các khu vực sử dụng CĐHH, là khu vực dọc giới tuyến quân sự và các khu vực được nghi ngờ có lực lượng hậu cần lớn.

III. Cách Thức Hoa Kỳ Triển Khai Chiến Tranh Hóa Học Tại Việt Nam

Từ năm 1961, Hoa Kỳ bắt đầu tiến hành các hoạt động phun rải chất độc hóa học trên diện rộng tại miền Nam Việt Nam. Các chất độc này được pha trộn với xăng dầu hoặc dầu hỏa, sau đó được phun từ máy bay trực thăng hoặc máy bay vận tải. Mục tiêu của việc phun rải là phá hủy rừng cây, hoa màu, nguồn lương thực của quân giải phóng, đồng thời gây khó khăn cho hoạt động của du kích. Việc phun rải diễn ra liên tục trong suốt 10 năm, từ 1961 đến 1971, với quy mô ngày càng lớn. Ước tính, Hoa Kỳ đã sử dụng khoảng 80 triệu lít chất độc hóa học, trong đó chất da cam (Agent Orange) chiếm phần lớn.

3.1. Các Phương Thức Phun Rải Chất Độc Hóa Học Được Sử Dụng

Các chất độc hóa học được pha trộn với xăng dầu hoặc dầu hỏa để tăng độ bám dính và dễ dàng phun rải. Máy bay trực thăng và máy bay vận tải được sử dụng để phun rải trên diện rộng. Phương pháp phun rải này cho phép chất độc hóa học lan tỏa nhanh chóng, gây ảnh hưởng đến cả con người và môi trường. Quân đội Hoa Kỳ thường lựa chọn các khu vực rừng rậm, nơi có nhiều cây cối và hoa màu để phun rải, nhằm gây thiệt hại tối đa cho đối phương.

3.2. Ước Tính Lượng Chất Độc Hóa Học Đã Sử Dụng Tại Việt Nam

Ước tính, Hoa Kỳ đã sử dụng khoảng 80 triệu lít chất độc hóa học trong chiến tranh Việt Nam. Trong đó, chất da cam, chứa dioxin, là loại chất độc được sử dụng nhiều nhất. Các loại chất độc khác bao gồm chất trắng (Agent White), chất xanh (Agent Blue), và chất tía (Agent Purple). Mỗi loại chất độc có tác dụng và độc tính khác nhau, nhưng đều gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người và môi trường.

IV. Hậu Quả Kinh Tế Từ Chiến Tranh Hóa Học ở Việt Nam 1961 2017

Chiến tranh hóa học gây ra những thiệt hại to lớn cho nền kinh tế Việt Nam. Việc phun rải chất độc hóa học đã tàn phá hàng triệu hecta rừng, làm giảm năng suất cây trồng, gây mất mùa, đói kém. Nhiều khu vực bị ô nhiễm nặng nề, không thể canh tác được nữa. Ngành nông nghiệp bị ảnh hưởng nghiêm trọng, đời sống của người dân gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra, chi phí cho việc khắc phục hậu quả chiến tranh hóa học, chăm sóc sức khỏe cho nạn nhân cũng là một gánh nặng lớn cho nền kinh tế.

4.1. Thiệt Hại Cho Nông Nghiệp Mất Mùa và Ô Nhiễm Đất

Việc phun rải chất độc hóa học đã tàn phá nhiều diện tích đất nông nghiệp, gây mất mùa và làm giảm năng suất cây trồng. Đất đai bị ô nhiễm dioxin, không thể canh tác được nữa. Người dân mất đi nguồn sống, lâm vào cảnh đói nghèo. Nhiều khu vực từng là vựa lúa của miền Nam Việt Nam đã trở thành vùng đất chết do ảnh hưởng của chất độc hóa học.

4.2. Chi Phí Khắc Phục Hậu Quả Chiến Tranh và Chăm Sóc Nạn Nhân

Việc khắc phục hậu quả chiến tranh hóa học đòi hỏi nguồn lực tài chính lớn. Chi phí cho việc tẩy độc đất, khôi phục rừng, xây dựng các cơ sở y tế, chăm sóc sức khỏe cho nạn nhân là một gánh nặng lớn cho ngân sách nhà nước. Ngoài ra, việc hỗ trợ sinh kế cho những người bị ảnh hưởng bởi chất độc hóa học cũng là một thách thức lớn.

V. Ảnh Hưởng Đến Sức Khỏe Con Người Do Chiến Tranh Hóa Học

Hậu quả nghiêm trọng nhất của chiến tranh hóa học là những ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Dioxin, một chất cực độc có trong chất da cam, gây ra nhiều bệnh tật nguy hiểm, như ung thư, dị tật bẩm sinh, các vấn đề về thần kinh và sinh sản. Hàng triệu người Việt Nam đã bị phơi nhiễm dioxin, và con cháu của họ cũng phải gánh chịu những hậu quả nặng nề. Nỗi đau da cam kéo dài qua nhiều thế hệ, là một vết thương khó lành của dân tộc.

5.1. Các Bệnh Tật Do Phơi Nhiễm Dioxin Ung Thư và Dị Tật Bẩm Sinh

Dioxin gây ra nhiều bệnh ung thư, như ung thư máu, ung thư gan, ung thư phổi. Dị tật bẩm sinh là một trong những hậu quả đau lòng nhất của chất độc da cam. Nhiều trẻ em sinh ra với các dị dạng cơ thể, thiểu năng trí tuệ, hoặc các vấn đề về tim mạch. Những đứa trẻ này cần sự chăm sóc đặc biệt trong suốt cuộc đời, gây áp lực lớn cho gia đình và xã hội.

5.2. Tác Động Tâm Lý Đến Nạn Nhân Và Gia Đình

Ngoài những ảnh hưởng về thể chất, chiến tranh hóa học còn gây ra những tác động tâm lý nặng nề cho nạn nhân và gia đình. Nhiều người cảm thấy mặc cảm, tự ti, bị xã hội kỳ thị. Gia đình có người bị nhiễm chất độc da cam thường phải đối mặt với những khó khăn về kinh tế, xã hội, và tình cảm. Việc chăm sóc người bệnh, lo lắng cho tương lai của con cái là những gánh nặng lớn đè lên vai họ.

VI. Giải Pháp Hướng Khắc Phục Hậu Quả CĐHH Tại Việt Nam

Việc khắc phục hậu quả chiến tranh hóa học là một quá trình lâu dài và phức tạp, đòi hỏi sự nỗ lực của cả nhà nước, cộng đồng và quốc tế. Các giải pháp bao gồm: tẩy độc đất, khôi phục rừng, chăm sóc sức khỏe cho nạn nhân, hỗ trợ sinh kế cho người bị ảnh hưởng, và nâng cao nhận thức cộng đồng về tác hại của chất độc hóa học. Sự hợp tác quốc tế, đặc biệt là từ Hoa Kỳ, đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết vấn đề này.

6.1. Các Dự Án Tẩy Độc Đất Và Khôi Phục Môi Trường

Các dự án tẩy độc đất đang được triển khai tại các điểm nóng ô nhiễm dioxin, như sân bay Biên Hòa, sân bay Đà Nẵng. Công nghệ tẩy độc đất sử dụng các phương pháp khác nhau, như đốt nóng, cô lập, hoặc phân hủy dioxin. Việc khôi phục rừng cũng là một ưu tiên quan trọng, nhằm phục hồi hệ sinh thái và bảo vệ nguồn nước.

6.2. Chính Sách Hỗ Trợ Nạn Nhân Chất Độc Da Cam Của Việt Nam

Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ nạn nhân chất độc da cam, như trợ cấp hàng tháng, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, và đào tạo nghề. Các tổ chức xã hội, như Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam, cũng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của nạn nhân và vận động sự hỗ trợ từ cộng đồng.

24/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cuộc chiến tranh hóa học do Hoa Kỳ gây ra ở Việt Nam (1961-1971) Chương 2: Hậu quả chiếntranh hóa học do Hoa Kỳ gây ra đối với Việt Nam trong và sau chiến tranh (1961-2017) 6 Chƣơng 1 CUỘC CHIẾN TRANH HÓA HỌC DO HOA KỲ GÂY RA Ở VIỆT NAM (1961-1971) 1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ Từ lâu Hoa Kỳ đã có âm mưu xâm lược Việt Nam muốn biến miền Nam Việt Nam trở thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ quân sự của Hoa Kỳ, và ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam và khu vực. Vì vậy, Hoa Kỳ đã ngày càng can thiệp sâu vào cuộc chiến tranh Đông Dương bằng cách chi viện cho Pháp và từng bước thay chân Pháp ở Đông Dương. Từ sau hiệp định Giơ- ne-vơ năm 1954, Hoa Kỳ dựng lên chính phủ thân Hoa Kỳ do Ngô Đình Diệm đứng đầu, đây là bước đầu cho quá trình can dự trực tiếp của Hoa Kỳ ở Việt Nam.

Tiếp đó, cùng với sự giúp đỡ của lực lượng cách mạng miền Bắc Việt Nam càng làm cho phong trào cách mạng miền Nam Việt Nam phát triển nhanh chóng. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa khủng hoảng sau phong trào Đồng Khởi để duy trì sự tồn tại của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, Hoa Kỳ đã đề ra những chiến lược mới để ngăn chặn phong trào cách mạng của nhân dân Việt Nam, ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào cách mạng miền Nam bằng chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”. Về âm mưu, "chiến tranh đặc biệt" là hình thức chiến tranh xâm lược kiểu mới, dưới sự chỉ huy của cố vấn Hoa Kỳ, dựa vào vũ khí và trang thiết bị kĩ thuật, phương tiện tiên tiến hiện đại nhằm chống lại phong trào cách mạng Việt Nam. Về thủ đoạn, Hoa Kỳ đề ra kế hoạch Staley - Taylo, bình định miền Nam Việt Nam trong 18 tháng, tăng viện trợ quân sự cho chính quyền Ngô Đình Diệm, tăng cường cố vấn người Hoa Kỳ và lực lượng quân đội của chính quyền Ngô Đình Diệm, tiến hành dồn dân lập “Ấp chiến lược” trang thiết bị tiên tiến, hiện đại và sử dụng các chiến thuật mới như “Trực thăng vận” và “Thiết xa vận”.

“Ấp chiến lược” được chính quyền Ngô Đình Diện và Hoa Kỳ coi là xương sống của chiến tranh đặc biệt. Tiếp đó, Hoa Kỳ mở nhiều cuộc hành quân càn quét nhằm tiêu diệt lược lượng cách mạng Việt Nam, ngoài ra tiến hành nhiều hoạt động phá hoại miền Bắc, phong tỏa biên 7 giới, vùng biển nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho cách mạng miền Nam. Thường quen với các cuộc chiến tranh lớn và quy mô mở rộng nhưng nay ở Việt Nam, Hoa Kỳ đối diện với cuộc chiến tranh quy ước bị tổn hại lớn và thiệt hại nặng nề. Chính vì vậy, Hoa Kỳ đã đề ra những biện pháp để ngăn chặn phong trào cách mạng của nhân dân, ngăn chặn sự tiếp viện từ miền Bắc chi viện cho miền Nam và đây chính là mục tiêu sống còn của quân đội Hoa Kỳ và chính quyền Ngô Đình Diệm.

Do vậy, âm mưu chiến lược của đội Sài Gòn và Hoa Kỳ trong thời gian này từ tập trung bình định miền Nam trong 18 tháng sang bình định có trọng điểm của Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ, Narama cùng quân đội Sài Gòn với thủ đoạn dựa vào viện trợ ấp chiến lược và chiến thuật mới. nhằm mục đích cô lập và tiêu diệt phong trào đấu tranh ở miền Nam Việt Nam, mở các cuộc hành quân ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam. Hỗ trợ thực hiện âm mưu và các thủ đoạn chiến lược ngày 15/4/1961, cố vấn của tổng thống Kennedy là Walt .W Rostow đưa ra 9 giải pháp cho cuộc chiến tranh Việt Nam và bản thảo được gửi tới Tướng Lionel C. McGarr cũng là người phụ trách quân đội Hoa Kỳ ở Sài Gòn.

Trước tình hình ở miền Nam Việt Nam thì giải pháp sử dụng CĐHH được quân đội Hoa Kỳ ưu tiên. Việc sử dụng CĐHH cho mục đích quân sự được nhắc đến như một phần ưu tiên của dự án mang tên là AGILE (nhanh nhẹn) được thực hiện vào tháng 7 năm 1961. Chiến dịch sử dụng chất độc hóa học tại chiến trường miền Nam đã được quân đội Hoa Kỳ đặt tên với mật danh là: “Chiến dịch bàn tay dài” chiến dịch này được Hoa Kỳ công bố chính thức kết thúc vào năm 1972. Cũng trong thời gian này không quân Hoa Kỳ cũng đã thử nghiệm phun rải ở một số khu vực và đã mang lại hiệu quả cao theo đánh giá của Hoa Kỳ.

Chính quyền của Ngô Đình Diệm và Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đã ủng hộ kế hoạch này mặc dù lo ngại phản ứng của quốc tế. Để hợp lý hoá hành động tàn bạo, Hoa Kỳ đã quy hoạch tất cả các khu vực sử dụng CĐHH, là khu vực dọc giới tuyến quân sự và các khu vực được nghi ngờ có lực lượng hậu cần lớn. Kế hoạch của quân đội Hoa Kỳ đã từng được áp dụng trên chiến trường 8 Malaisia để tiêu diệt kẻ thù. Qua đó tránh được dư luận quốc tế, không bị coi là vị phạm bất kì luật pháp quốc tế nào.

MỤC ĐÍCH HOA KỲ SỬ DỤNG CHẤT ĐỘC HÓA HỌC 1. Về quân sự Tại viện nghiên cứu chiến tranh War Research Service ở Hoa Kỳ các nhà khoa học đã nghiên cứu được rất nhiều các loại chất khác nhau, đặc biệt là hợp chất 2,4- D và 2,4,5-T được coi là thành phần có chứa chất phát quang. Trong cuộc diễn tập phá hủy cây trồng được diễn ra ở Fort Drum ở New York năm 1959 của cơ quan Fort Dietrick tổ chức, đã thử nghiệm rải, hợp chất Butylester 2,4-D và 2,4,5-T xuống nơi có diện tích là 4 dặm vuông, cuộc diễn tập đã đem lại kết quả khả thi. Vì vậy, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đã ra chỉ thị phê chuẩn đề án rải chất phát quang xuống khu vực miền Nam Việt Nam.

Sau đó, cơ quan này còn tiếp tục tổ chức 18 cuộc thử nghiệm khác rải chất phát quang và làm rụng lá cây. 120 chương trình sử dụng chất phát quang và làm rụng lá cây (có tài liệu gọi là chất phát quang), được quân đội Hoa Kỳ tiến hành tại chiến trường Đông Dương đặc biệt là Việt Nam dưới mật danh “Chiến dịch Ranch Hand”. Trong chiến lược chiến tranh đặc biệt Hoa Kỳ sử dụng CĐHH với quy mô lớn, liên tục phát quang các căn cứ địa của Mặt trận Giải phóng Dân tộc miền Nam Việt Nam, các trục đường giao thông thủy, bộ quan trọng với mục đích ngăn chặn sự vận chuyển, tiếp viện, tiếp tế lương thực cho miền Nam Việt Nam, lập các vành đai trắng vùng trọng điểm ở biên giới Việt - Lào - Campuchia, xung quanh các căn cứ chiến lược, chiến thuật, củng cố tuyến phòng thủ của Hoa Kỳ, ngăn chặn hoạt động quân sự của quân và nhân dân Việt Nam. Với âm mưu này, Hoa Kỳ đã sử dụng các thủ đoạn tinh vi sau: Đầu tiên, quân đội Hoa Kỳ sử dụng chất phát quang để đánh phá các căn cứ giao thông bộ, thủy của quân cách mạng.

Hoa Kỳ sử dụng chất độc phát quang trên hầu hết các tỉnh từ vĩ tuyến 17 vào Nam đã tàn phá cây cối, đồi núi, dọc bên hai bờ sông, hủy diệt màu xanh của lá cây, làm cho cây cối chết khô để phục vụ mục đích quân sự ngăn chặn và khống chế sự cơ động và vận chuyển của cơ quan lực lượng ở miền Nam. Để phát hiện đánh phá căn cứ 9 của quân giải phóng, quân đội Hoa Kỳ đã mở rộng tăng cường phun rải các chất phát quang đặc biệt là ở Minh Châu, Bời Lời và nơi giáp ranh Trị Thiên, Quế Sơn, Tây Ninh. Các hệ thống đường giao thông quan trọng là mục tiêu đánh phá và ngăn chặn của quân đội Hoa Kỳ, bởi đây là con đường tiếp viện lực lượng cũng như lương thực thực phẩm cho miền Nam nên Hoa Kỳ ra sức ngăn chặn quá trình vận chuyển, tiếp tế cho lực lượng cách mạng. Tiêu biểu, tại hành lang tây Trị Thiên trong hai ngày 28, 29/7/1968 quân đội Hoa Kỳ đã ném 23 quả bom CS (Corson Stoughton) ở Dốc Mèo gây nhiễm độc bán kính rộng 2.5km, tiếp đó là trục đường 12 và A Sầu, A Lưới vào hai tháng 7, 9/1969 quân đội Hoa Kỳ đã dùng máy bay B52 kết hợp với CĐHH phá hoại đường giao thông làm tắc con đường vận chuyển của quân giải phóng.

Đặc biệt, ở nơi có hệ thống giao thông trọng điểm Hoa Kỳ rải CĐHH liên tục làm tê liệt khả năng khắc phục. Về hệ thống đường thủy là mục tiêu Hoa Kỳ chú ý, Hoa Kỳ tập trung đánh phá dọc hai bên bờ sông, Hoa Kỳ rải CĐHH dọc 2 bên bờ sông, kênh rạch kể cả khu vực đồng bằng lẫn rừng núi, bán kính phun rải chất phát quang hai bên đường dọc sông từ 500m đến 2 hoặc 3km. Đặc biệt, ở các vùng hiểm trở Hoa Kỳ còn sử dụng chất CS dạng bột cùng máy bay B52 đánh phá quyết liệt, làm tê liệt hệ thống giao thông. Ngoài ra, Hoa Kỳ kết hợp máy bay B52, bom bi, bom trường, bom nổ chậm, mìn lá.

với CĐHH để tạo thành khu trống trải và dùng bom napan, rải xăng đốt cháy rừng. Tiếp đó, để cản trở, ngăn chặn hoạt động của quân và dân Việt Nam, quân đội Hoa Kỳ sử dụng bột CS. Thứ hai, Hoa Kỳ phát quang lập vành đai trắng dọc biên giới và xung quanh các căn cứ quân sự quan trọng của miền Nam Việt Nam. Hoa Kỳ mở rộng phạm vi phát quang nhằm tiêu diệt các loại cây cối, và dùng bột CS, bom mìn khác thiết lập vành đai trắng xung quanh căn cứ, hậu cứ và đô thị lớn do Hoa Kỳ kiểm soát.

Để bảo vệ căn cứ liên hợp Đà Nẵng, Hoa Kỳ đã tạo ra hàng rào điện tử, triệt phá toàn bộ khu vực Duy Xuyên, phát quang đường giao thông chiến lược 19 và xung quanh các mục tiêu quan trọng. Tiếp đó, các khu vực mà Hoa Kỳ nghi ngờ quân giải phóng sử dụng làm bàn đạp tiến công 10 thì Hoa Kỳ ra sức phát quang thành khu vực trắng. Điển hình ở Huế, Hoa Kỳ đã phát quang chiều rộng khoảng hai ngày đường đi bộ, dài từ 40 đến 60km. Âm mưu thứ hai của Hoa Kỳ là sử dụng các chất độc, hơi độc trực tiếp chi viện trong quá trình tác chiến kết hợp với các hỏa lực khác tiêu hao và gây khó khăn trở ngại cho hoạt động quân sự của lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Hậu Quả Chiến Tranh Hóa Học Của Hoa Kỳ Tại Việt Nam (1961-2017)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về những tác động lâu dài của chiến tranh hóa học mà Hoa Kỳ đã thực hiện tại Việt Nam. Từ việc sử dụng chất độc da cam đến những hệ lụy về sức khỏe và môi trường, tài liệu này không chỉ nêu rõ những thiệt hại mà còn phân tích các chính sách phục hồi và hỗ trợ cho những nạn nhân. Độc giả sẽ nhận được cái nhìn toàn diện về một chương lịch sử đau thương, đồng thời hiểu rõ hơn về những nỗ lực hiện tại nhằm khắc phục hậu quả.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu "Luận văn nghiên cứu xác định mức độ tồn lưu chất độc da cam dioxin và đánh giá hiệu quả thử nghiệm công nghệ hóa cơ xử lý dioxin tại khu vực sân bay biên hòa", nơi cung cấp thông tin chi tiết về các biện pháp xử lý chất độc còn tồn tại. Ngoài ra, tài liệu "Luận án tiến sĩ lịch sử phong trào nhân dân thế giới phản đối mỹ xâm lược việt nam 19541975 nghiên cứu trường hợp một số nước tây âu" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về phản ứng toàn cầu đối với cuộc chiến tranh này. Cuối cùng, tài liệu "Luận văn thạc sĩ lịch sử ngã ba đồng lộc quyết chiến điểm trên mặt trận giao thông vận tải trong chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất 19651968" sẽ cung cấp thêm bối cảnh lịch sử về các chiến lược quân sự trong giai đoạn này. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các khía cạnh khác nhau của cuộc chiến tranh và hậu quả của nó.