Chương 1: Những vấn đề về rủi ro và hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán Tín dụng chứng từ ở Ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán Tín dụng chứng từ ở Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam Chương 3: Giải pháp hạn chế rủi ro trong phương thức Tín dụng chứng từ ở Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam 4 CHƢƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ RỦI RO VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TRONG PHƢƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ Ở NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. PHƢƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ 1. Khái niệm phƣơng thức thanh toán tín dụng chứng từ Tín dụng chứng từ là một phƣơng thức thanh toán trong thƣơng mại quốc tế, đó là một cam kết thanh toán khi xuất trình chứng từ phù hợp quy định, một cam kết chắc chắn không hủy ngang và có điều kiện của ngân hàng dựa trên yêu cầu của khách hàng (nhà nhập khẩu) dành cho ngƣời thụ hƣởng (nhà xuất khẩu). Theo điều 2, UCP600: “Tín dụng chứng từ là một thỏa thuận bất kì, cho dù được gọi tên hoặc mô tả như thế nào, thể hiện một cam kết chắc chắn và không hủy ngang của ngân hàng phát hành về việc thanh toán khi xuất trình phù hợp”.
1 Thanh toán ở đây có nghĩa là: (i) trả tiền ngay khi xuất trình, (ii) trả tiền theo cam kết trả sau vào một ngày trong tƣơng lai và (iii) chấp nhận hối phiếu do ngƣời thụ hƣởng kí phát và thanh toán khi đến hạn. Nhƣ vậy, có thể hiểu tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận, sự thỏa thuận này đƣợc thể hiện bằng nội dung một bức thƣ hay một bức điện, gọi là Thƣ tín dụng hay Tín dụng thƣ (Letter of Credit - L/C). Trong thực tế, ngƣời ta gọi đan xen giữa tín dụng chứng từ với L/C. Các bên tham gia trong phƣơng thức tín dụng chứng từ - Người yêu cầu mở L/C (Applicant for L/C): còn đƣợc gọi là ngƣời mở hay ngƣời xin mở L/C, là bên mà L/C đƣợc phát hành theo yêu cầu của họ.Trong thƣơng mại quốc tế, Ngƣời yêu cầu thƣờng là nhà nhập khẩu, yêu cầu ngân hàng phục vụ mình phát hành một L/C và có trách nhiệm pháp lí về việc Ngân hàng phát hành trả tiền cho Ngƣời thụ hƣởng L/C.
- Người thụ hưởng L/C (Beneficiary of L/C): còn đƣợc gọi là Ngƣời hƣởng hay Ngƣời hƣởng lợi, là bên đƣợc hƣởng số tiền thanh toán hay sở hữu hối phiếu đã chấp 1 GS. Nguyễn Văn Tiến, Giáo trình Thanh toán quốc tế và Tài trợ ngoại thƣơng, NXB Thống Kê, 2013 5 nhận thanh toán L/C này. Tùy hoàn cảnh cụ thể mà Ngƣời thụ hƣởng có thể có những tên gọi khác nhau nhƣ: ngƣời bán (seller), nhà xuất khẩu (exporter), ngƣời kí phát hối phiếu (drawer), ngƣời thắng thầu (contractor). - Ngân hàng phát hành (NHPH) (Issuing Bank): Là ngân hàng thực hiện phát hành một L/C theo đơn của ngƣời yêu cầu.
NHPH thƣờng đƣợc hai bên mua bán thỏa thuận và quy định trong hợp đồng. Nếu không có sự thỏa thuận trƣớc, thì nhà nhập khẩu đƣợc phép tự chọn NHPH. NHPH hay còn đƣợc gọi là ngân hàng mở (Opening Bank). - Ngân hàng thông báo (NHTB) (Advising Bank): Là ngân hàng thực hiện thông báo L/C cho Ngƣời thụ hƣởng theo yêu cầu của NHPH.
NHTB thƣờng là một ngân hàng đại lí hay một chi nhánh của NHPH tại nƣớc nhà xuất khẩu. - Ngân hàng xác nhận (NHXN) (Confirming Bank): Trong trƣờng hợp nhà xuất khẩu muốn có sự đảm bảo chắc chắn của thƣ tín dụng, thì một ngân hàng có thể dứng ra xác nhận L/C theo yêu cầu của NHPH. Thông thƣờng NHXN là một ngân hàng lớn có uy tín và trong nhiều trƣờng hợp NHTB đề nghị đƣợc là NHXN L/C. Muốn đƣợc xác nhận NHPH phải trả phí xác nhận rất cao và thƣờng phải đặt cọc trƣớc, mức đặt cọc có thể đạt tới 100% giá trị L/C.
- Ngân hàng được chỉ định (NHđCĐ) (Nominated Bank): Là ngân hàng mà tại đó L/C có giá trị thanh toán hay chiết khấu. Đối với L/C có giá trị tự do, thì bất cứ ngân hàng nào đều có thể trở thành NHđCĐ. Trách nhiệm kiểm tra chứng từ của NHđCĐ là giống nhƣ NHPH khi nhận đƣợc bộ chứng từ. Quy trình phƣơng thức thanh toán tín dụng chứng từ Quy trình nghiệp vụ tín dụng chứng từ đƣợc thể hiện qua sơ đồ sau: Hình 1: Quy trình phƣơng thức thanh toán tín dụng chứng từ 6 (1) Ngƣời mua làm đơn xin mở L/C và gửi cho ngân hàng mở L/C, yêu cầu ngân hàng mở L/C cho ngƣời hƣởng.
(2) Căn cứ vào đơn xin mở L/C, Ngân hàng mở L/C tiến hành mở L/C và thông báo nội dung L/C này cho ngƣời bán biết và gửi bản chính L/C cho ngƣời bán thông qua ngân hàng của họ. (3) Ngân hàng thông báo thông báo nội dung L/C cho ngƣời bán và chuyển bản chính L/C cho ngƣời bán. (4) Ngƣời bán giao hàng cho ngƣời mua, nếu chấp nhận L/C; nếu không chấp nhận L/C thì yêu cầu ngƣời mua và Ngân hàng mở L/C sửa đổi L/C theo ý của mình, đến khi chấp nhận mới tiến hành giao hàng. (5) Ngƣời bán lập bộ chứng từ thanh toán và xuất trình cho Ngân hàng mở thông qua ngân hàng thông báo hoặc một ngân hàng khác để đòi tiền.
(6) Ngân hàng mở L/C tiến hành kiểm tra bộ chứng từ thanh toán nếu thấy phù hợp với L/C thì tiến hành trả tiền cho ngƣời bán. Nếu thấy không phù hợp thì ngân hàng mở từ chối thanh toán và gửi trả lại toàn bộ chứng từ cho ngƣời bán. (7) Ngân hàng mở đòi tiền ngƣời mua. (8) Ngƣời mua kiểm tra chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/C thì trả tiền lại cho Ngân hàng mở L/C và nhận bộ chứng từ; nếu thấy không phù hợp thì có quyền từ chối trả tiền.
Các loại thƣ tín dụng 1. Khái niệm “Thư tín dụng (L/C-Letter of Credit) là một văn bản (thư hoặc điện tín) do NHPH mở ra, trên cơ sở yêu cầu của nhà nhập khẩu, trong đó ngân hàng này cam kết trả tiền cho người thụ hưởng nếu họ xuất trình đầy đủ bộ chứng từ thanh toán phù hợp với nội dung của L/C. Các loại thư tín dụng cơ bản - Thư tín dụng không hủy ngang (Irrevocable L/C): Là loại L/C sau khi đã đƣợc phát hành thì Ngân hàng phát hành L/C không đƣợc sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ toàn phần hay từng phần nội dung trong thời hạn 2 GS. Nguyễn Văn Tiến, Giáo trình Thanh toán quốc tế và Tài trợ ngoại thƣơng, NXB Thống Kê, 2013 7 hiệu lực của nó.
L/C không thể hủy ngang là một sự cam kết trả tiền chắc chắn của Ngân hàng phát hành đối với Ngƣời hƣởng lợi L/C, vì vậy loại L/C này đƣợc áp dụng rất phổ biến trong thanh toán quốc tế. - Thư tín dụng xác nhận (Confirmed L/C) Là loại thƣ tín dụng không thể hủy ngang đƣợc một Ngân hàng khác xác nhận trả tiền theo yêu cầu của Ngân hàng phát hành L/C. L/C loại này đã đƣợc hai Ngân hàng cùng cam kết trả tiền cho Ngƣời hƣởng lợi, do vậy độ an toàn của nó rất cao. - Thư tín dụng miễn truy đòi (Irrevocable without recourse) Là loại L/C mà sau khi Ngƣời hƣởng lợi đã đƣợc trả tiền thì Ngân hàng phát hành L/C không còn quyền đòi lại tiền Ngƣời hƣởng lợi L/C trong bất cứ trƣờng hợp nào.
Khi dùng loại L/C này Ngƣời hƣởng lợi phải ghi trên hối phiếu câu “Miễn truy đòi lại ngƣời kí phát”, (without recourse to drawer) và trong L/C cũng phải ghi nhƣ vậy. L/C miễn truy đòi cũng đƣợc sử dụng rộng rãi trong Thanh toán quốc tế. - Thư tín dụng có thể hủy ngang (Revocable L/C) Là loại L/C mà sau khi đƣợc phát hành thì Ngân hàng phát hành có quyền sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ nó mà không cần có sự đồng ý của Ngƣời hƣởng lợi. Loại L/C này là một lời hứa trả tiền không chắc chắn cho Ngƣời hƣởng lợi, do đó ít đƣợc sử dụng.
Các loại thư tín dụng đặc biệt - Thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable L/C) Là loại L/C trong đó quy định quyền của Ngƣời hƣởng lợi thứ nhất có thể yêu cầu Ngân hàng phát hành L/C hoặc là Ngân hàng đƣợc chỉ định chuyển nhƣơng toàn bộ hay một phần quyền thực hiện L/C cho một hay nhiều ngƣời khác. L/C chuyển nhƣợng chỉ đƣợc chuyển nhƣợng một lần. Chi phí chuyển nhƣợng do Ngƣời hƣởng lợi chịu. - Thư tín dụng tuần hoàn (Revoling L/C) Là loại L/C không thể hủy bỏ, sau khi sử dụng xong thì nó lại tự động có giá trị nhƣ cũ, và cứ nhƣ vậy nó cứ tuần hoàn cho đến khi nào tổng trị giá hợp đồng đƣợc thực hiện.
L/C tuần hoàn cần ghi rõ ngày hết hiệu lực cuối cùng và số lần tuần hoàn căn cứ vào thời hạn hiệu lực trong mỗi lần tuần hoàn thì phải ghi rõ có cho phép số dƣ của 8 L/C trƣớc cộng dồn vào những L/C kế tiếp hay không, nếu không cho phép thì gọi nó là L/C tuần hoàn không tích lũy (non.Cumulative revoling L/C), nếu cho phép thì gọi là L/C tuần hoàn tích lũy (cumulative revoling L/C). Có ba cách tuần hoàn: + Tuần hoàn tự động: tức là nó tự động có giá trị nhƣ cũ, không cần có sự thông báo của Ngân hàng phát hành L/C cho Ngƣời hƣởng lợi. + Tuần hoàn hạn chế: Tức là chỉ khi nào Ngân hàng phát hành L/C thông báo cho Ngƣời hƣởng lợi thì L/C kế tiếp mới có giá trị hiệu lực + Tuần hoàn bán tự động: Tức là sau khi L/C trƣớc sử dụng xong nếu sau một vài ngày mà Ngân hàng phát hành L/C không có ý kiến gì về L/C kế tiếp thì nó lại tự động có giá trị nhƣ cũ. - Thư tín dụng giáp lưng (Back to back L/C) Ngƣời hƣởng lợi một L/C dùng L/C này nhƣ một tài sản thế chấp để yêu cầu phát hành một L/C khác cho Ngƣời hƣởng lợi khác hƣởng, L/C phát hành sau gọi là L/C giáp lƣng.
L/C giáp lƣng dùng trong mua bán trung gian khi mà ngƣời trung gian không muốn sử dụng L/C chuyển nhƣợng, bởi vì họ không muốn lộ bí mật khách hàng của mình. Cần phân biệt L/C gốc và L/C giáp lƣng qua những điểm sau: + Hai L/C gốc và L/C giáp lƣng là hoàn toàn độc lập với nhau. + Số chứng từ của L/C giáp lƣng phải nhiều hơn L/C gốc. + Kim ngạch L/C giáp lƣng phải nhỏ hơn L/C gốc, khoản chênh lệch này do ngƣời trung gian hƣởng dùng để chi trả phí mở L/C giáp lƣng và phần hoa hồng của họ.
+ Thời hạn giao hàng của L/C giáp lƣng phải sớm hơn L/C gốc.