CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tín dụng ngân hàng a. Khái niệm tín dụng Ngân hàng Theo quan điểm truyền thống, tín dụng là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền cam kết hoàn trả cả gốc và lãi theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng đã ký kết.
Căn cứ theo Điều 4 của Luật TCTD (2010) “Cấp tín dụng” là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Phân loại Tín dụng ngân hàng Trong nền kinh tế mở hiện nay, với xu hướng hội nhập kinh tế, đặc biệt Việt Nam là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) nên tín dụng ngân hàng cũng phải đa dạng hóa để đáp ứng nhu cầu của sự phát triển các ngành kinh tế, đồng thời qua đó cạnh tranh với sự thâm nhập và phát triển của các TCTD quốc tế mở tại Việt Nam. - Căn cứ vào thời hạn tín dụng, có thể chia TD 3 loại: + Tín dụng ngắn hạn: Là tín dụng có thời hạn đến 1 năm, nhỏ hơn 12 tháng, nhằm bổ sung nhu cầu vốn lưu động cho các doanh nghiệp và cá nhân. Thời gian cấp tín dụng ngắn nên có độ rủi ro thấp, ít bị tác động về lãi suất, lạm Luan van 9 phát và sự biến động của các chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ.
Do đó, lãi suất đối với cấp tín dụng cho ngắn hạn thường thấp hơn cho vay trung dài hạn. + Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ trên 1 đến 5 năm, nhưng không quá 60 tháng. Tín dụng trung hạn thường được sử dụng để cho vay mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất; Đầu tư các dự án theo nhu cầu của doanh nghiệp như xây dựng kho tàng, bến bãi… có thời hạn thu hồi vốn ở mức trung bình nên có mức rủi ro trung bình. + Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, từ 60 tháng trở lên.
Tín dụng trung hạn thường được sử dụng để đầu tư cho vay các công trình xây dựng cơ bản với qui mô lớn, mua sắm thiết bị dây chuyền công nghệ hiện đại; Các dự án trồng cây công nghiệp (cao su, trồng rừng nguyên liệu). Loại tín dụng này chứa đựng mức rủi ro cao, kể cả rủi ro cá biệt và rủi ro hệ thống. - Căn cứ vào đối tượng tín dụng, chia thành 2 loại: + Tín dụng vốn lưu động: Là loại tín dụng được sử dụng để hình thành vốn lưu động của các tổ chức kinh tế. Tín dụng vốn lưu động bao gồm: cho vay dự trữ vật tư, nguyên nhiên vật liệu, hàng hoá, cho vay chi phí sản xuất.
+ Tín dụng vốn cố định: Là loại tín dụng được sử dụng để hình thành tài sản cố định như xây dựng cơ bản công trình mới, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất. - Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn, có 2 loại: + Tín dụng đầu tư sản xuất và lưu thông hàng hoá: Là loại tín dụng được cung cấp cho các khách hàng doanh nghiệp và cá nhân để tiến hành sản xuất và kinh doanh tạo ra hàng hóa bán trên thị trường. + Tín dụng tiêu dùng: Là hình thức tín dụng cho vay khách hàng cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng phục vụ đời sống, sinh hoạt gia đình. Luan van 10 - Căn cứ mức độ đảm bảo.
+ Tín dụng đảm bảo: Là hình thức tín dụng có tài sản đảm bảo hoặc người bảo lãnh đứng ra làm đảm bảo cho khoản nợ vay. + Tín dụng không có đảm bảo: Là hình thức tín dụng không cần có tài sản thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh mà hoàn toàn dựa trên uy tín của khách hàng. - Căn cứ vào loại tiền: + Tín dụng bằng đồng nội tệ (VNĐ). + Tín dụng bằng ngoại tệ.
- Căn cứ theo khách hàng: + Tín dụng cho doanh nghiệp. + Tín dụng cho khách hàng cá nhân, hộ sản xuất. Ngoài ra còn có một số tiêu thức khác như căn cứ vào xuất xứ của tín dụng có tín dụng trực tiếp và tín dụng gián tiếp. Việc phân loại cho vay có cơ sở khoa học là tiền đề để thiết lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng nhằm mục đích giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng.
Vai trò của tín dụng ngân hàng - Vai trò đối với sự phát triển của nền kinh tế: + Tín dụng thúc đẩy sự ra đời của các thành phần kinh tế theo mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước, hoặc một tỉnh, vùng. Tín dụng là đòn bẩy kinh tế để thực hiện việc đầu tư các dự án mới, tái sản xuất mở rộng, cải tiến công nghệ, kỹ thuật tiên tiến hiện đại để nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm và hiệu quả kinh tế. + Tín dụng ngân hàng là công cụ tài trợ cho các dự án tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo, và các chương trình, dự án mang tính xã hội khác. Luan van 11 + Thúc đẩy quá trình tích tụ tập trung vốn sản xuất mở rộng quá trình phân công lao động xã hội và hợp tác kinh tế trong nước và quốc tế; Thông qua hoạt động tín dụng ngân hàng, Nhà nước có thể kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế để đề ra các biện pháp chính sách quản lý vĩ mô nền kinh tế và hoạt động của các thành phần kinh tế thông qua các chính sách về tín dụng như chính sách lãi suất, chính sách hỗ trợ xuất khẩu, chính sách cho vay hộ nông nghiệp và các ngành công nghiệp phụ trợ… + Việc tăng TDNH của NHTM đồng thời mang lại lợi nhuận cho Ngân hàng đồng thời cũng kèm theo tăng rủi ro, để đạt được mục tiêu tăng trường bền vững là một nhiệm vụ đầy khó khăn thử thách.
Song song với việc tăng trưởng tín dụng là phải đảm bảo an toàn tín dụng và đó là mục tiêu lớn trong hoạt động kinh doanh của các NHTM nói riêng và cả hệ thống ngân hàng nói chung. Nói chung, một trong những nguồn vốn quan trọng để bổ sung vốn lưu động và vốn cố định cho các doanh nghiệp, người đầu tư là vốn TDNH. Vì vốn tự có của chủ đầu tư thường chiếm 20%-40% trong tổng nguồn vốn đầu tư, do đó sức cạnh tranh và phát triển trong nền kinh tế thị trường có thể bị nhiều hạn chế. TDNH sẽ là nguồn vốn tài trợ quan trọng cho các dự án kinh doanh của doanh nghiệp mới.
- Vai trò của tín dụng đối với hoạt động của NHTM: + Hoạt động tín dụng ngân hàng là một trong các hoạt động tiền đề cho sự ra đời của NHTM. Hoạt động tín dụng chiếm khoảng 70% đến 80% trên tổng tài sản của Ngân hàng và mang lại thu nhập lớn nhất cho ngân hàng. + Quá trình mở rộng và phát triển tín dụng mang một ý nghĩa sống còn với các NHTM. Khi các ngân hàng không thực hiện được duy trì và mở rộng tín dụng thì vốn ngân hàng huy động được sẽ bị ứ đọng, ngân hàng vẫn phải trả lãi cho phần vốn ứ đọng trong khi không có thu nhập từ lãi cho vay từ đó Luan van 12 dẫn đến ngân hàng bị thua lỗ và có khả năng rơi vào tình trạng phá sản.
Hơn nữa, việc nâng cao chất lượng và mở rộng hoạt động tín dụng sẽ tạo điều kiện để ngân hàng phát triển thêm các hoạt động dịch vụ gia tăng khác của Ngân hàng như: dịch vụ tư vấn, dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, ATM.kết quả là ngân hàng vừa tăng được nguồn vốn, vừa thu phí dịch vụ, tăng lợi nhuận và thu nhập cho ngân hàng. Rủi ro tín dụng của Ngân hàng Thương mại a. Khái niệm: Rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Rủi ro là những biến cố không mong đợi khi xảy ra dẫn đến tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định.
Thường thì rủi ro tín dụng xảy ra trong những trường hợp khách hàng vay không thực hiện đúng các điều khoản của hợp đồng tín dụng, với biểu hiện cụ thể là khách hàng chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản gốc hoặc và lãi vay, gây ra những tổn thất về tài chính và khó khăn trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại. Trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại, rủi ro tín dụng ảnh hưởng rất lớn đến mọi hoạt động của Ngân hàng. Khi ngân hàng cấp tín dụng nhưng không thu được nợ, mất vốn, sẽ tác động đến khả năng thanh khoản của NHTM. Buộc phải vay trên thị trường liên Ngân hàng, lãi suất vay cao, lợi nhuận giảm, có nguy cơ mất khả năng thanh toán một số trường hợp rơi vào tình trạng phá sản hoặc sáp nhập vào NHTM khác.
Phân loại rủi ro tín dụng Luan van 13 Rủi ro tín dụng bao gồm rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục: - Rủi ro giao dịch: Rủi ro phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có 3 bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. + Rủi ro lựa chọn: Là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để quyết định cho vay. + Rủi ro bảo đảm: Phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của tài sản đảm bảo.