CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan Rủi ro tại các Ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm rủi ro tại các Ngân hàng thương mại Rủi ro được nhiều nhà kinh tế định nghĩa theo nhiều cách khác nhau mà chưa có được định nghĩa thống nhất về rủi ro. Những trường phái khác nhau, các tác giả khác nhau đưa ra những định nghĩa rủi ro khác nhau. Theo trường phái truyền thống: Rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn, hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra với con người Allan Willett (1991) cho rằng rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cố không mong đợi. John Haynes (1895) nêu rõ rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất, là tổng hợp những sự ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác suất.
Tuy nhiên, quan điểm được xem là hiện đại và nhận được sự đồng tình cao là của Frank H. Knight (1921) khi ông cho rằng rủi ro là sự không chắc chắn có thể đo lường được. Như vậy, theo những quan điểm hiện đại có thể hiểu: Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được. Rủi ro có tính hai mặt: vừa có tính tích cực, vừa có tính tiêu cực.
Rủi ro có thể gây ra những tổn thất, mất mát, nguy hiểm .nhưng rủi ro có thể mang đến cho con người những cơ hội 1.2 Khái niệm rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là các tổn thất phát sinh từ việc khách hàng không trả được đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay hoặc khách hàng thanh toán nợ gốc và lãi không đúng hạn sau khi được cấp các khoản tín dụng (cả trong và ngoại bảng) (Peter S. 2 Quản lý rủi ro tín dụng là quá trình ngân hàng tác động đến hoạt động tín dụng thông qua bộ máy và công cụ quản lý để phòng ngừa, cảnh báo, đưa ra các biện pháp nhằm hạn chế đến mức tối đa việc không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay hoặc thu gốc và lãi không đúng hạn. Rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác của ngân hàng như: bảo lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ thương mại, cho vay ở thị trường liên ngân hàng, những chứng khoán có giá (trái phiếu, cổ phiếu …), trái quyền, Swaps, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ … Một cách hiểu khác của Joel Bessis (2001) cho rằng rủi ro tín dụng được hiểu là những tổn thất do khách hàng không trả đuợc nợ hoặc sự giảm sút chất lượng tín dụng của những khoản vay. Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ cả gốc lẫn lãi của khoản cho vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn.
RRTD không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay, mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác của ngân hàng như bảo lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ thương mại, cho vay ở thị trường liên ngân hàng, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ dự án. Khi gặp rủi ro tín dụng, ngân hàng không thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay, nhưng ngân hàng phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi đến hạn, điều này làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi. Khi không thu được nợ thì vòng quay vốn tín dụng giảm làm ngân hàng kinh doanh không có hiệu quả. Khi gặp phải RRTD ngân hàng thường rơi vào tình trạng mất khả năng thanh khoản, làm mất lòng tin người gửi tiền, ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng.3 Tác động của rủi ro tín dụng đối với ngân hàng Khi khách hàng không trả được gốc và lãi hoặc trả nợ không đúng hạn làm tác động đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng như : 3 Tăng chi phí, giảm lợi nhuận trong hoạt động ngân hàng: Chi phí luôn là một yếu tố quan trọng để thực hiện các nghiệp vụ tại ngân hàng.
Khi RRTD xảy ra, chi phí phát sinh sẽ tăng cao, ngân hàng muốn bù đắp được những khoản tín dụng gặp rủi ro đòi hỏi phải tăng lãi suất cho vay, làm giảm lợi nhuận trong kinh doanh của ngân hàng. Khi RRTD xảy ra NH không thu được số vốn như dự kiến do vậy không quay vòng được vốn, không bù đắp được chi phí huy động vốn, chi phí hoạt động, mất cơ hội đầu tư các dự án khả thi, làm giảm lợi nhuận của ngân hàng. Suy giảm uy tín của ngân hàng: RRTD xảy ra nó phản ánh hiệu quả kinh doanh, trình độ quản lý của ngân hàng kém hiệu quả. Làm lòng tin của khách hàng đối với ngân hàng giảm, từ đó làm giảm uy tín của ngân hàng trên thị trường.
Uy tín của ngân hàng còn có tác động mạnh tới nghiệp vụ huy động vốn, làm giảm quy mô hoạt động của ngân hàng. Uy tín ngân hàng giảm cũng làm giảm lòng tin đối với các tổ chức tài chính tiền tệ do vậy ngân hàng cũng sẽ gặp phải khó khăn hơn trong việc vay vốn, thiết lập quan hệ với các tổ chức. Giảm khả năng thanh toán của ngân hàng, tăng nguy cơ phá sản ngân hàng: Khi RRTD xảy ra, ngân hàng không thu hồi được gốc và lãi dự kiến của số vốn đã cho khách hàng vay, từ đó làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng. Tình trạng này kéo dài có thể làm ngân hàng mất khả năng thanh toán và phá sản.
Việc phá sản ngân hàng có thể dẫn đến phản ứng dây chuyền gây nên phá sản các ngân hàng khác, nó tác động tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế, chính trị của quốc gia.4 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng của ngân hàng Hoạt động tín dụng là lĩnh vực nghiệp vụ phức tạp, ẩn chứa nhiều rủi ro nhưng là hoạt động đem lại nguồn thu chủ yếu của các ngân hàng. Vì vậy, nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến RRTD tại NHTM là thực sự cần thiết để các ngân hàng có được các giải pháp cần thiết để hạn chế rủi ro và đạt được hiệu quả hoạt động kinh doanh cao nhất. RRTD có nguyên nhân từ nhiều phía: từ phía người cho vay, từ phía người đi vay và cả từ môi trường kinh doanh. 4 Nguyên nhân từ môi trường kinh doanh Môi trường kinh doanh là tác nhân gây ra RRTD bất khả kháng, xảy ra ngoài ý muốn và tầm kiểm soát của con người trong một thời điểm nào đó.
Từ môi trường kinh tế: trong một nền kinh tế tăng trưởng lành mạnh, tiềm năng sản xuất và tiêu dùng của xã hội còn lớn thì hoạt động sản xuất kinh doanh còn có nhiều cơ hội để phát triển và ngược lại, khi nền kinh tế có hiện tượng lạm phát tăng vọt kéo theo đồng tiền nội địa bị mất giá, dẫn đến kinh doanh trong nước bị trở ngại và khó khăn, khiến cho khả năng thu hồi vốn tín dụng trở nên phức tạp. Bên cạnh đó là sự cạnh tranh khốc liệt giữa các ngân hàng nước ngoài có tiềm lực vượt trội (về vốn, quy mô, công nghệ, sản phẩm, chất lượng dịch vụ) và các NHTM trong nước, từ đó làm tăng nguy cơ các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn sẽ bị các ngân hàng nước ngoài thu hút. Từ môi trường pháp lý: rủi ro do môi trường pháp lý chưa thuận lợi và sự kém hiệu quả của cơ quan pháp luật cấp địa phương sẽ ảnh hưởng tới khả năng phát sinh RRTD, đồng thời là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến rủi ro trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Hay sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của NHNN.
Sự bất ổn về kinh tế của các nước sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế của nước khác hay các cuộc khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng tài chính trên thế giới xảy ra là nguyên nhân gây ra rủi ro của cả doanh nghiệp và ngân hàng. Sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế giới cũng là nguyên nhân gây ra rủi ro. Sự thay đổi của môi trường tự nhiên như thiên tai, dịch bệnh, bão lụt gây tổn thất cho khách hàng vay vốn kinh doanh. Sự tấn công của hàng nhập lậu làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Từ hệ thống thông tin: Trong việc quản lý thông tin, nước ta chưa có một cơ chế công bố thông tin đầy đủ, đáng tin cậy về doanh nghiệp và ngân hàng. Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) cũng chỉ cung cấp thông tin về tình hình hoạt động tín dụng nhưng chưa phải là cơ quan định mức tín nhiệm doanh nghiệp một cách độc 5 lập và hiệu quả, các thông tin cung cấp còn đơn điệu, chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu tra cứu thông tin. Nguyên nhân từ ngân hàng Ngân hàng là một ngành kinh doanh đặc biệt đi vay với lãi suất thấp và sau đó cho vay lại với lãi suất cao hơn để hưởng chênh lệch lãi suất. Do đó, ngân hàng luôn xem xét rất cẩn thận trước khi cho vay để đạt hiệu quả và tránh rủi ro mất vốn.
Những nguyên nhân dẫn đến RRTD vẫn luôn xuất hiện do năng lực quản trị của ngân hàng, do ngân hàng không có đủ thông tin về các số liệu thống kê, chỉ tiêu để phân tích và đánh giá khách hàng dẫn đến việc xác định sai thời hạn cho vay và trả nợ không phù hợp với phương án kinh doanh của khách hàng. Chính sách tín dụng không hợp lý, quá nhấn mạnh vào mục tiêu lợi nhuận dẫn đến cho vay đầu tư quá liều lĩnh, tập trung nguồn vốn cho vay quá nhiều vào một doanh nghiệp hoặc một ngành kinh tế nào đó. Kèm theo áp lực phải hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch hàng năm được giao, chưa thật sự quan tâm đến chất lượng tín dụng. Do thiếu am hiểu thị trường, thiếu thông tin hoặc phân tích thông tin không đầy đủ dẫn đến cho vay và đầu tư không hợp lý.
Do thiếu giám sát và quản lý sau khi cho vay, hệ thống cảnh báo sớm về các khoản vay có vấn đề không hiệu quả nên không thể can thiệp kịp thời. Do hệ thống kiểm soát trong khi cho vay không chặt chẽ và kém hiệu quả tin tưởng vào tài sản thế chấp, bảo lãnh, bảo hiểm coi đó là vật chất đảm bảo chắc chắn cho sự thu hồi nợ gốc và lãi tiền vay.