chương 1 cũng khẳng định được mục đích, tầm quan trọng và ý nghĩa ứng dụng của giấu tin nói chung và giấu tin trong ảnh nói riêng trong bài toán liên lạc mật. Các kiến thức này làm cơ sở lý thuyết và tiền đề khoa học cho phép những nghiên cứu sâu hơn ở phần sau. download by : skknchat@gmail.com 14 CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU MỘT SỐ KỸ THUẬT GIẤU TIN MẬT TRONG ẢNH SỐ 2.1 Khái niệm chung Ảnh số là tập hợp bao gồm hữu hạn các phần tử được gọi là điểm ảnh (picxel) có hai đặc trưng cơ bản là vị trí (x, y) và độ xám của nó, mỗi điểm ảnh được biểu diễn bởi một số hữu hạn các bit. Điểm ảnh là một phần tử ảnh, đơn vị thông tin nhỏ nhất trong một ảnh dạng raster [7].
Mức xám của điểm ảnh là cường độ sáng của nó được gán bằng giá trị số tại điểm đó. Các thang giá trị mức xám thông thường gồm có 16, 32, 64, 128, 256. Hiện nay mức phổ dụng từ 0 255 tương đương với 1 byte trong máy tính. Như vậy ta sẽ thấy: - Ảnh đen trắng: là ảnh có hai màu đen, trắng (không chứa màu khác) với mức xám ở các điểm ảnh có thể khác nhau.
- Ảnh màu: màu sắc được tạo nên từ 3 màu cơ bản (R-G-B), người ta thường dùng 3 byte để mô tả mức màu, giá trị màu: 28*3=224≈ 16,7 triệu màu. Tiếp sau quá trình số hóa, ảnh sẽ được lưu hoặc phân tích, các ảnh thô thường sẽ có kích thước lưu trữ rất lớn và sẽ không hiệu quả. Các ảnh thô thường sẽ được biểu diễn lại dựa trên các đặc trưng ảnh như biên ảnh (Boundary), hay vùng ảnh (Region) thông qua một số phương pháp biểu diễn như: mã Run- Length đối với ảnh nhị phân; mã Chaine dùng biểu diễn đường biên ảnh, khi một đường bất kỳ được chia thành các đoạn nhỏ; mã tứ phân (Quad- Tree) được dùng để mã hoá cho vùng ảnh. Vùng ảnh đầu tiên được chia làm bốn phần thường là bằng nhau, sau đó kiểm tra nếu không đồng nhất thì tiếp tục phân chia cho tới khi được là khối đồng nhất.
download by : skknchat@gmail.com 15 Trên phương diện toán học, ảnh số được xem như là một ma trận nguyên dương gồm m hàng và n cột, mỗi phần tử của ma trận đại diện cho một điểm ảnh. Dựa theo màu sắc ta có thể chia ảnh số thành ba loại cơ bản: ảnh nhị phân, ảnh đa cấp xám và ảnh màu.2 Phân loại ảnh 2.1 Ảnh nhị phân Là ảnh chỉ có hai màu, một màu đại diện cho màu nền và màu còn lại cho đối tượng của ảnh. Nếu hai màu là đen và trắng thì gọi là ảnh đen trắng. Như vậy, ảnh nhị phân được xem như một ma trận nhị phân.2 Ảnh đa cấp xám Là ảnh có thể nhận tối đa 256 mức sáng khác nhau trong khoảng màu đen- trắng.
Người ta phân mức đen trắng đó thành L mức, nếu sử dụng số bit B= 8 để mã hóa mức đen hay trắng (hay mức xám) thì L được xác định: L 2 B (khi L 28 =256 mức). Như vậy, ảnh đa cấp xám xem như là ma trận không âm có giá trị tối đa 255; mỗi điểm ảnh trong ảnh đa cấp xám biểu diễn cường độ sáng của ảnh tại điểm đó.3 Ảnh màu Mỗi điểm ảnh được biểu diễn bởi một số byte (thường là 3 byte) đại diện cho 3 thành phần màu. Như vậy, ảnh màu có thể xem như 3 ma trận nguyên ứng với ba thành phần màu của các điểm ảnh. Hệ màu phổ biến thường gặp, được dùng rộng rãi nhất là RGB gồm ba ma trận màu tương ứng với các giá trị Red, Green và Blue.
Ngoài ra, có thể phân chia ảnh theo tần số: ảnh có tần số cao và ảnh có tần số thấp. Hoặc phân chia theo đặc điểm, cấu trúc định dạng ảnh.3 Các định dạng ảnh 2.1 Định dạng ảnh Image (IMG) Ảnh IMG là ảnh đen trắng, mỗi điểm ảnh được thể hiện bởi 1 bit. Toàn bộ ảnh chỉ gồm các điểm sáng và tối tương ứng với giá trị 1 hoặc 0. Tỉ lệ nén download by : skknchat@gmail.com 16 của kiểu định dạng này là khá cao.
Ảnh IMG được nén theo từng dòng. Mỗi dòng bao gồm các gói (Pack). Các dòng giống nhau được nén thành một gói.2 Định dạng ảnh Personal Computer Exchange (PCX) Định dạng ảnh PCX là một trong những định dạng loại cổ điển nhất. Nó sử dụng phương pháp mã hóa loạt dài RLC để nén dữ liệu ảnh.
Quá trình nén và giải nén được thực hiện trên từng dòng ảnh. Thực tế, phương pháp giải nén PCX kém hiệu quả hơn so với kiểu IMG. Định dạng ảnh PCX thường được dùng để lưu trữ ảnh vì thao tác đơn giản, cho phép nén và giải nén nhanh. Tuy nhiên vì cấu trúc của nó cố định, nên trong một số trường hợp nó làm tăng kích thước lưu trữ.3 Định dạng ảnh Graphics Interchanger Format (GIF) Định dạng ảnh GIF do hãng Computer Incorporated (Mỹ) đề xuất lần đầu tiên vào năm 1990.
Với định dạng GIF, khi số màu trong ảnh càng tăng, thì ưu thế của định dạng GIF càng nổi trội. Những ưu thế này có được là do GIF tiếp cận các thuật toán LZW (Lampel Ziv Welch) dựa vào sự lặp lại của một nhóm điểm, người ta xây dựng từ điển lưu các chuỗi ký tự có tần suất lặp lại cao và thay thế bằng từ mã tương ứng mỗi khi gặp lại chúng. Dạng ảnh GIF cho chất lượng cao, độ phân giải đồ họa tốt, cho phép hiển thị trên hầu hết các phần cứng đồ họa.4 Định dạng ảnh Bitmap (BMP) Ảnh Bitmap được phát triển bởi Microsoft Corporation và lưu trữ dưới dạng độc lập thiết bị cho phép Windows hiển thị dữ liệu không phụ thuộc vào khung chỉ định màu trên bất kỳ phần cứng nào. Tên file mở rộng mặc định của một file ảnh Bitmap là BMP, nét vẽ được thể hiện là các điểm ảnh.
Qui ước màu đen, trắng tương ứng với các giá trị 0, 1. Ảnh BMP được sử dụng trên Microsoft Windows và các ứng dụng chạy trên Windows từ version 3. BMP thuộc loại ảnh mảnh. Mỗi file ảnh BMP gồm bốn phần: - Bitmap Header (14 bytes) giúp nhận dạng tập tin bitmap.
download by : skknchat@gmail.com 17 - Bitmap Information (40 bytes) chứa một số thông tin chi tiết giúp hiển thị ảnh. - Palette màu (4*x bytes), x là số màu của ảnh: định nghĩa các màu sẽ được sử dụng trong ảnh. - Bitmap Data: Chứa dữ liệu ảnh. Đặc điểm nổi bật nhất của định dạng BMP là tập tin ảnh thường không được nén bằng bất kỳ thuật toán nào.
Khi lưu ảnh, các điểm ảnh được ghi trực tiếp vào tập tin; một điểm ảnh sẽ được mô tả bởi một hay nhiều byte tùy thuộc vào giá trị n của ảnh. Do đó, một hình ảnh lưu dưới dạng BMP thường có kích cỡ rất lớn, gấp nhiều lần so với các ảnh được nén.5 Định dạng ảnh Joint Photographic Expert Group (JPEG) Các nhà nghiên cứu đã phát minh ra định dạng này, để hiển thị các hình ảnh đầy đủ màu hơn (full-colour) cho định dạng di động, mà kích thước file lại nhỏ hơn. Giống như ảnh GIF, JPEG cũng được sử dụng nhiều trên Web. Lợi ích của JPEG hơn GIF là nó có thể hiển thị hình ảnh với màu chính xác (true-colour) có thể lên đến 16 triệu màu.
Điều đó cho phép JPEG được sử dụng tốt nhất cho hình ảnh chụp và hình ảnh minh họa có số lượng màu lớn. Nhược điểm chính của định dạng JPEG là chúng được nén bằng thuật toán mất dữ liệu, do đó hình ảnh sẽ bị mất một số chi tiết khi chuyển sang định dạng JPEG. Đường bao giữa các khối màu có thể xuất hiện nhiều điểm mờ, và các vùng sẽ mất sự rõ nét. Nói cách khác, định dạng JPEG thực hiện bảo quản tất cả thông tin màu trong hình ảnh đó.
Tuy nhiên với các hình ảnh chất lượng màu cao (high colour) như hình ảnh chụp sẽ không ảnh hưởng gì. Ảnh JPEG không thể làm trong suốt hoặc chuyển động, trong trường hợp này ta sẽ sử dụng định dạng GIF hoặc định dạng PNG để tạo trong suốt. Để tạo hình JPEG dung lượng nhỏ đến mức có thể sử dụng tải nhanh hơn trên các website ta sử dụng kỹ thuật tạo ảnh JPEG Loading. download by : skknchat@gmail.6 Một số loại ảnh khác Ngoài các định dạng ảnh trên còn có nhiều định dạng ảnh khác phổ biến được kể đến như: - Ảnh raster PNG, ICO, TIFF,… - Ảnh vecter: AI, Core IDRAW, CGM, DXF, EVA, DMF, Gerber, HVIF, IGES, PGML,… - Ảnh RAW: CIFF, DNG, ORF.
Histogram Đây là khái niệm cơ bản trong xử lý ảnh. Histogram là bảng thống kê tần suất giá trị cường độ sáng của các điểm ảnh. Đối với ảnh màu, cường độ sáng của một điểm ảnh được xác định theo công thức: Y 0,299 R + 0,587 G + 0,114 B trong đó: R, G, B là giá trị các thành phần màu và Y là cường độ của ảnh.1: Biểu đồ Historgram của ảnh ngọn nến 2.2 Yêu cầu đối với giấu tin trong ảnh Hiện nay có nhiều công trình về ẩn giấu thông tin trong ảnh, cũng như phát hiện tin giấu trong ảnh được công bố. Theo các nghiên cứu đó, có ba hướng tiếp cận để dò tìm ảnh chứa thông tin ẩn là tiếp cận bằng kỹ thuật thống kê toán học, bằng cấu trúc ảnh và bằng mạng nơ ron.
Trong đó việc tiếp cận bằng kỹ thuật thống kê được coi là nền tảng và nhiều ưu điểm, được tập trung khai thác nhiều nhất. Một số tài liệu nghiên cứu đã được công bố hầu download by : skknchat@gmail.com 19 hết các kỹ thuật giấu tin trên LSB bởi việc thay đổi các bit trọng số thấp nhất hoặc cạnh bit có trọng số thấp nhất của các điểm ảnh với tỷ lệ thích hợp cũng không làm cho chất lượng ảnh bị thay đổi đáng kể và mắt thường khó có thể phát hiện được. Ta đã biết, yếu tố quan trọng trong việc phát hiện ảnh có chứa thông tin bí mật là tỷ lệ độ lớn của thông điệp so với độ lớn file ảnh chứa. Tỷ lệ đó càng lớn thì khả năng phát hiện càng cao và ngược lại, tỷ lệ nhúng đó càng thấp thì khả năng phát hiện càng khó khăn và đến một giới hạn nào đó thì việc phát hiện ảnh chứa thông tin ẩn bằng kỹ thuật thống kê là không có hiệu quả.
Với một ảnh môi trường C cố định thì tỷ lệ đó phụ thuộc vào độ dài của thông điệp cần nhúng. Một số nghiên cứu đã đưa ra ngưỡng 10%, khi đó khả năng phát hiện bằng kỹ thuật thống kê toán là rất thấp, thậm chí không thể phát hiện được.