Giáo trình kỹ thuật điện tử nghề kỹ thuật máy lạnh và điều hòa không khí cao đẳng phần 2 trường cao đẳng cơ điện xây dựng việt xô

Giáo trình kỹ thuật điện tử cho nghề kỹ thuật máy lạnh và điều hòa không khí cao đẳng, phần 2, cung cấp kiến thức chuyên sâu và thực tiễn.

Trường đại học

CĐ Việt Xô

Chuyên ngành

Kỹ thuật Điện tử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

bài giảng
67
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

5. Bài 5: Tranzitor hiệu ứng trường

5.1. Giới thiệu

5.2. Mục tiêu

5.3. Nội dung

5.3.1. Transistor mối nối lưỡng cực (BJT)

5.3.2. Tranzitor hiệu ứng trường (FET)

5.3.2.1. JFET - Cấu tạo và kí hiệu
5.3.2.2. Nguyên lí hoạt động của JFET
5.3.2.3. Cách mắc JFET
5.3.2.4. Đặc tuyến của JFET
5.3.2.5. MOSFET - Cấu tạo và kí hiệu
5.3.2.5.1. MOSFET kênh liên tục
5.3.2.5.2. MOSFET kênh gián đoạn
5.3.2.6. Các cách mắc cơ bản của MOSFET

5.3.3. Ứng dụng của FET

5.3.4. Nhận dạng, phân loại JFET, MOSFET

5.3.5. Xác định các cực D, G, S

5.3.6. Kiểm tra tình trạng kỹ thuật của các linh kiện

5.4. Câu hỏi và bài tập

6. Bài 6: Một số linh kiện đặc biệt

6.1. Giới thiệu

6.2. Mục tiêu

6.3. Các phần tử quang

6.3.1. Điốt quang

6.3.2. Tranzitor quang

6.3.3. Triac quang

6.3.4. Các bộ ghép quang

6.3.4.1. Bộ ghép quang Điốt – phô tô quang
6.3.4.2. Bộ ghép quang Điốt – Triac quang

6.4. Khái niệm và cấu trúc vi mạch (IC)

6.5. Câu hỏi và bài tập

7. Bài 07: Mạch biến đổi AC/DC

7.1. Giới thiệu

7.2. Mục tiêu

7.3. Khái quát chung

7.3.1. Khái niệm mạch biến đổi AC/DC

7.3.2. Phân loại mạch chỉnh lưu

7.3.2.1. Phân loại theo phần tử sử dụng
7.3.2.2. Phân loại theo nguồn đầu vào
7.3.2.3. Phân loại theo tần số nguồn xoay chiều

7.4. Mạch chỉnh lưu không có điều khiển

7.4.1. Mạch chỉnh lưu một pha nửa chu kỳ

Tóm tắt

I. Tổng quan về Giáo trình Kỹ thuật Điện tử Tranzitor Hiệu ứng Trường

Giáo trình Kỹ thuật Điện tử cung cấp kiến thức cơ bản về Tranzitor hiệu ứng trường (FET), một linh kiện quan trọng trong lĩnh vực điện tử. Tranzitor hiệu ứng trường được sử dụng rộng rãi trong các ứng dụng chuyển mạch điện tử và khuếch đại tín hiệu. Bài viết này sẽ đi sâu vào cấu tạo, nguyên lý hoạt động và ứng dụng của các loại tranzitor này.

1.1. Đặc điểm cấu tạo của Tranzitor Hiệu ứng Trường

Tranzitor hiệu ứng trường có cấu tạo đặc biệt với các cực như cực máng (Drain), cực nguồn (Source) và cực cổng (Gate). Cấu tạo này cho phép tranzitor hoạt động hiệu quả trong việc điều khiển dòng điện mà không cần dòng vào lớn, nhờ vào điện trường tạo ra từ điện áp đặt vào cực cổng.

1.2. Phân loại Tranzitor Hiệu ứng Trường

Có hai loại chính của tranzitor hiệu ứng trường: JFET (Junction Field Effect Transistor) và MOSFET (Metal Oxide Semiconductor FET). Mỗi loại có những đặc điểm và ứng dụng riêng, phù hợp với các yêu cầu kỹ thuật khác nhau trong mạch điện tử.

II. Vấn đề và Thách thức trong việc sử dụng Tranzitor Hiệu ứng Trường

Mặc dù tranzitor hiệu ứng trường mang lại nhiều lợi ích, nhưng cũng tồn tại một số thách thức trong việc sử dụng chúng. Các vấn đề như độ nhạy với nhiệt độ, điện áp ngưỡng và khả năng chịu tải là những yếu tố cần được xem xét khi thiết kế mạch điện tử.

2.1. Độ nhạy với nhiệt độ của Tranzitor

Tranzitor hiệu ứng trường có thể bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ, dẫn đến sự thay đổi trong các thông số điện. Điều này có thể gây ra sự không ổn định trong hoạt động của mạch điện, đặc biệt là trong các ứng dụng yêu cầu độ chính xác cao.

2.2. Điện áp ngưỡng và khả năng chịu tải

Điện áp ngưỡng là một yếu tố quan trọng trong việc xác định khả năng hoạt động của tranzitor. Nếu điện áp ngưỡng không được tuân thủ, tranzitor có thể không hoạt động đúng cách, dẫn đến hỏng hóc hoặc hiệu suất kém.

III. Phương pháp và Giải pháp chính cho Tranzitor Hiệu ứng Trường

Để tối ưu hóa hiệu suất của tranzitor hiệu ứng trường, các phương pháp thiết kế mạch và lựa chọn linh kiện phù hợp là rất quan trọng. Việc sử dụng các mạch khuếch đại và chuyển mạch hiệu quả có thể giúp cải thiện hiệu suất tổng thể.

3.1. Thiết kế mạch khuếch đại hiệu quả

Mạch khuếch đại sử dụng tranzitor hiệu ứng trường cần được thiết kế sao cho đảm bảo độ ổn định và hiệu suất cao. Việc lựa chọn các linh kiện phù hợp và tối ưu hóa các thông số kỹ thuật là rất cần thiết.

3.2. Sử dụng các linh kiện hỗ trợ

Các linh kiện hỗ trợ như điện trở, tụ điện và các mạch điều khiển có thể giúp cải thiện hiệu suất của tranzitor hiệu ứng trường. Việc kết hợp các linh kiện này một cách hợp lý sẽ tạo ra các mạch điện ổn định và hiệu quả.

IV. Ứng dụng thực tiễn của Tranzitor Hiệu ứng Trường trong Kỹ thuật Điện tử

Tranzitor hiệu ứng trường được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của kỹ thuật điện tử, từ các mạch khuếch đại tín hiệu đến các mạch chuyển mạch điện tử. Sự linh hoạt và hiệu suất cao của chúng làm cho chúng trở thành lựa chọn hàng đầu trong thiết kế mạch.

4.1. Ứng dụng trong mạch khuếch đại

Tranzitor hiệu ứng trường thường được sử dụng trong các mạch khuếch đại tín hiệu, nhờ vào khả năng khuếch đại dòng điện mà không cần dòng vào lớn. Điều này giúp tiết kiệm năng lượng và tăng hiệu suất cho các thiết bị điện tử.

4.2. Ứng dụng trong mạch chuyển mạch

Trong các mạch chuyển mạch điện tử, tranzitor hiệu ứng trường cho phép điều khiển dòng điện một cách chính xác và nhanh chóng. Điều này rất quan trọng trong các ứng dụng như điều khiển động cơ và các thiết bị tự động hóa.

V. Kết luận và Tương lai của Tranzitor Hiệu ứng Trường

Tranzitor hiệu ứng trường đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của kỹ thuật điện tử. Với những ưu điểm vượt trội, chúng sẽ tiếp tục được nghiên cứu và phát triển để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong công nghệ hiện đại.

5.1. Xu hướng phát triển trong công nghệ tranzitor

Các nghiên cứu hiện tại đang tập trung vào việc cải thiện hiệu suất và độ bền của tranzitor hiệu ứng trường. Sự phát triển của công nghệ mới sẽ mở ra nhiều cơ hội ứng dụng hơn cho loại linh kiện này.

5.2. Tương lai của Tranzitor trong các ứng dụng công nghệ cao

Với sự phát triển không ngừng của công nghệ, tranzitor hiệu ứng trường sẽ tiếp tục là một phần không thể thiếu trong các thiết bị điện tử hiện đại, từ smartphone đến các hệ thống tự động hóa công nghiệp.

16/08/2025
Giáo trình kỹ thuật điện tử nghề kỹ thuật máy lạnh và điều hòa không khí cao đẳng phần 2 trường cao đẳng cơ điện xây dựng việt xô

Trích đoạn nội dung tài liệu

Bài 5: Tranzitor hiệu ứng trƣờng Mã bài: MĐ19.05 Giới thiệu: Tranzitor hiệu ứng trường (đèn trường) Là loại linh kiện được sử dụng khá phổ biến trong kỹ thuật điện tử nhất là trong ứng dụng làm chuyển mạch điện tử. Tranzitor hiệu ứng trường có đặc tính làm việc khá linh hoạt và có thể điều khiển ở nhiều chế độ, trạng thái làm việc khác nhau giống như BJT. Mục tiêu: - Trình bày được đặc điểm cấu tạo và đặc tính làm việc của các loại Tranzitor trường cũng như phạm vi ứng dụng của chúng; - Nhận dạng, phân loại được các loại JFET,MOSFET; - Xác định được các cực và kiểm tra được tình trạng kỹ thuật của JFET, MOSFET. Nội dung: Transistor trình bày trước được gọi là transistor mối nối lưỡng cực (BJT = Bipolar Junction Transistor).

BJT có điện trở ngõ vào nhỏ ở cách mắc thông thường CE, dòng IC =  IB, muốn cho IC càng lớn ta phải tăng IB (thúc dòng lối vào). Đối với transistor hiệu ứng trường có tổng trở vào rất lớn. Dòng điện ở lối ra được tăng bằng cách tăng điện áp ở lối vào mà không đòi hỏi dòng điện. Vậy ở loại này điện áp sẽ tạo ra một trường và trường này tạo ra một dòng điện ở lối ra.

Field Effect Transistor (FET) FET có hai loại: JFET v à MOSFET.Cấu tạo – kí hiệu JFET (Junction Field Effect Transistor) được gọi là FET nối. JFET có cấu tạo như (hình 5.1: Cấu tạo của JFET kênh N (a), JFET kênh P (b). Khoa Điện – Điện TĐH CĐ Việt Xô 75 Trên thanh bán dẫn hình trụ có điện trở suất khá lớn (nồng độ tạp chất tương đối thấp), đáy trên và đáy dưới lần lượt cho tiếp xúc kim loại đưa ra hai cực tương ứng là cực máng (cực thoát) và cực nguồn. Vòng theo chu vi của thanh bán dẫn người ta tạo một mối nối P – N.

Kim loại tiếp xúc với mẫu bán dẫn mới, đưa ra ngoài cực cổng (cửa). D: Drain: cực máng (cực thoát). G: Gate: cực cổng (cực cửa). S: Source: cực nguồn.

Vùng bán dẫn giữa D và S được gọi là thông lộ (kênh). Tùy theo loại bán dẫn giữa D và S mà ta phân biệt JFET thành hai loại: JFET kênh N, JFET kênh P. Nó có kí hiệu như (hình 5.2: Hình vẽ qui ước của JFET kênh N (a), JFET kênh P (b). Nguyên lí hoạt động Giữa D và S đặt một điện áp VDS tạo ra một điện trường có tác dụng đẩy hạt tải đa số của bán dẫn kênh chạy từ S sang D hình thành dòng điện I D.

Dòng ID tăng theo điện áp VDS đến khi đạt giá trị bão hòa IDSS (saturation) và điện áp tương ứng gọi là điện áp thắt kênh VPO (pinch off), tăng VDS lớn hơn VPO thì ID vẫn không tăng. Giữa G và S đặt một điện áp VGS sao cho không phân cực hoặc phân cực nghịch mối nối P – N. Nếu không phân cực mối nối P – N ta có dòng ID đạt giá trị lớn nhất IDSS. Nếu phân cực nghịch mối nối P – N làm cho vùng tiếp xúc thay đổi diện tích.

Điện áp phân cực nghịch càng lớn thì vùng tiếp xúc (vùng hiếm) càng nở rộng ra, làm cho tiết diện của kênh dẫn bị thu hẹp lại, điện trở kênh tăng lên nên Khoa Điện – Điện TĐH CĐ Việt Xô 76 dòng điện qua kênh ID giảm xuống và ngược lại. VGS tăng đến giá trị VPO thì ID giảm về 0.Cách mắc JFET - Cũng tương tự như BJT, JFET cũng có 3 cách mắc chủ yếu là: Chung cực nguồn(CS), chung cực máng (DC), và chung cực cửa(CG) - Trong đó kiểu CS thường được dùng nhiều hơn cả vì kiểu mắc này cho hệ số khuếch đại điện áp cao, trở kháng vào cao. Còn các kiểu mắc CD, CG thường được dùng trong tầng khuếch đại đệm và khuếch đại tần số cao.3: Các cách mắc của JFET trong các mạch ứng dụng - CS: Tín hiệu vào G so với S, tín hiệu ra D so với S. - CG: Tín hiệu vào S so với G, tín hiệu ra D so với G.

- CD: Tín hiệu vào G so với D, tín hiệu ra S so với D. Đặc tuyến của JFET.4: Sơ đồ mạch khảo sát đặc tuyến của JFET. Khoa Điện – Điện TĐH CĐ Việt Xô 77 Khảo sát sự thay đổi dòng thoát ID theo hiệu điện thế VDS và VGS, từ đó người ta đưa ra hai dạng đặc tuyến của JFET. Đặc tuyến truyền dẫn ID(VGS) ứng với VDS = const.

Giữ VDS = const, thay đổi VGS bằng cách thay đổi nguồn VDC, khảo sát sự biến thiên của dòng thoát ID theo VGS. Ta có: VGS 2 I D  I DSS (1  ) VP 0 - Khi VGS = 0V, dòng điện ID lớn nhất và đạt giá trị bão hòa, kí hiệu: IDSS. - Khi VGS âm thì dòng ID giảm, VGS càng âm thì dòng ID càng giảm. Khi VGS = VPO thì dòng ID = 0.

VPO lúc này được gọi là điện thế thắt kênh (nghẽn kênh). Đặc tuyến ngõ ra ID(VDS) ứng với VGS = const. Giữ nguyên VGS ở một trị số không đổi (nhất định). Thay đổi VCC và khảo sát sự biến thiên của dòng thoát ID theo VDS.5: Đặc tuyến làm việc của JFET - Giả sử chỉnh nguồn VDC về 0v, không thay đổi nguồn VDC, ta có VGS = 0V = const.

Thay đổi nguồn VCC → VDS thay đổi → ID thay đổi. Đo dòng ID và VDS. Ta thấy lúc đầu ID tăng nhanh theo VDS, sau đó ID đạt giá trị bão hòa, ID không tăng mặc dù VDS cứ tăng. - Chỉnh nguồn VDC để có VGS = 1v.

Không thay đổi nguồn VDC, ta có VGS = Khoa Điện – Điện TĐH CĐ Việt Xô 78 1V = const. Thay đổi nguồn VCC → VDS thay đổi → ID thay đổi. Đo dòng ID và VDS tương ứng. Ta thấy lúc đầu ID tăng nhanh theo VDS, sau đó ID đạt giá trị bão hòa, ID không tăng mặc dù VDS cứ tăng.

- Lặp lại tương tự như trên ta vẽ được họ đặc tuyến ngõ ra I D(VDS) ứng với VGS = const.6: Họ đặc tuyến ngõ ra của JFET. MOSFET (Metal Oxide Semiconductor FET) MOSFET hay còn được gọi IGFET (Insulated Gate FET) là FET có cực cổng cách li. MOSFET chia làm hai loại: MOSFET kênh liên tục (MOSFET loại hiếm) và MOSFET kênh gián đoạn (MOSFET loại tăng). Mỗi loại có phân biệt theo chất bán dẫn: kênh N hoặc kênh P.MOSFET kênh liên tục a.

Cấu tạo – kí hiệu Hình 5.7: Cấu tạo và hình qui ước của Mosfet kênh dẫn N Khoa Điện – Điện TĐH CĐ Việt Xô 79 Hình 5.8: Cấu tạo – kí hiệu MOSFET kênh dẫn loại P. Trên đó phủ một lớp mỏng SiO2 là chất cách điện. Hai vùng bán dẫn N+ tiếp xúc kim loại (Al) đưa ra cực thoát (D) và cực nguồn (S). Cực G có tiếp xúc kim loại bên ngoài lớp oxit nhưng vẫn cách điện với kênh N có nghĩa là tổng trở vào cực là lớn.

Để phân biệt kênh (thông lộ) N hay P nhà sản xuất cho thêm chân thứ tư gọi là chân Sub, chân này hợp với thông lộ tạo thành mối nối P-N. Thực tế, chân Sub của MOSFET được nhà sản xuất nối với cực S ở bên trong MOSFET. Đặc tuyến VDS là hiệu điện thế giữa cực D và cực S. VGS là hiệu điện thế giữa cực G và cực S.

Xét mạch như (hình 5.9: Mạch khảo sát đặc tuyến của MOSFET kênh liên tục loại N. Khoa Điện – Điện TĐH CĐ Việt Xô 80 Khi VGS = 0V: điện tử di chuyển tạo dòng điện ID, khi tăng điện thế VDS thì dòng ID tăng, ID sẽ tăng đến một trị số giới hạn là IDsat (dòng ID bão hòa). Điện thế VDS ở trị số IDsat được gọi là điện thế nghẽn VP0 giống như JFET. Khi VGS < 0: cực G có điện thế âm nên đẩy điện tử ở kênh N vào vùng P làm thu hẹp tiết diện kênh dẫn điện N và dòng ID sẽ giảm xuống do điện trở kênh dẫn điện tăng.

Khi điện thế cực G càng âm thì dòng ID càng nhỏ, và đến một trị số giới hạn dòng điện ID gần như không còn. Điện thế này ở cực G gọi là điện thế nghẽn –VP0. Đặc tuyến chuyển này tương tự đặc tuyến chuyển của JFET kênh N. Khi VGS > 0, cực G có điện thế dương thì điện tử thiểu số ở vùng nền P bị hút vào kênh N nên làm tăng tiết diện kênh, điện trở kênh bị giảm xuống và dòng I D tăng cao hơn trị số bão hòa IDsat.

Trường hợp này ID lớn dễ làm hư MOSFET nên ít được dùng. Tương tự JFET, ta khảo sát hai dạng đặc tuyến của MOSFET kênh liên tục: - Đặc tuyến truyền dẫn ID(VGS) ứng với VDS = const. - Đặc tuyến ngõ ra ID(VDS) ứng với VGS = const. Cách khảo sát tương tự như khảo sát JFET nhưng đến khi cần VGS > 0, ta đổi cực của nguồn VDC nhưng lưu ý chỉ cần nguồn dương nhỏ thì ID đã tăng cao.

Ta có hai dạng đặc tuyến Hình 5.10: Đặc tuyến truyền dẫn ID(VGS) của MOSFET kênh liên tục loại N.11: Họ đặc tuyến ngõ ra I (V ) của MOSFET kênh liên tục loại N. Khoa Điện – Điện TĐH CĐ Việt Xô 81 2. MOSFET kênh gián đoạn a. Cấu tạo – kí hiệu: Hình 5.12: Cấu tạo - kí hiệu MOSFET kênh gián đoạn loại N.13: Cấu tạo- kí hiệu MOSFET kênh gián đoạn loại P.

Cực cửa: Gate (G) ;Cực thoát: Drain (D) ;Cực nguồn: Source (S) ; Nền (đế ): Substrate (Sub) Cấu tạo MOSFET kênh gián đoạn loại N tương tự như cấu tạo MOSFET kênh liên tục loại N nhưng không có sẵn kênh N. Có nghĩa là hai vùng bán dẫn loại N pha nồng độ cao (N+) không dính liền nhau nên còn gọi là MOSFET kênh gián đoạn. Mặt trên kênh dẫn điện cũng được phủ một lớp oxit cách điện SiO2. Hai dây dẫn xuyên qua lớp cách điện nối vào vùng bán dẫn N+ gọi là cực S và D.

Cực G được lấy ra từ kim loại tiếp xúc bên ngoài lớp oxit SiO2 nhưng cách điện với bên trong. Cực Sub được nối với cực S ở bên trong MOSFET. Đặc tuyến Xét mạch sau:. Khoa Điện – Điện TĐH CĐ Việt Xô 82 Hình 5.14: Mạch khảo sát đặc tuyến của MOSFET kênh gián đoạn loại N.

Khi VGS = 0V, điện tử không di chuyển được nên ID = 0, điện trở giữa D và S rất lớn. Khi VGS > 0V thì điện tích dương ở cực G sẽ hút điện tử của nền P về phía giữa hai vùng bán dẫn N+ và khi lực hút đủ lớn thì số điện tử bị hút nhiều hơn, đủ để nối liền hai vùng bán dẫn N+ và kênh N nối liền hai vùng bán dẫn N+ đã hình thành nên có dòng ID chạy từ D sang S.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ