Giáo trình Luật Lao động Việt Nam (Tái bản lần thứ 9) - Trường Đại học Luật Hà Nội

Tìm hiểu giáo trình Luật Lao động Việt Nam chi tiết, cập nhật các quy định mới nhất về hợp đồng lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội và tranh chấp lao động.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình

2018

602
0
0

Phí lưu trữ

135 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về giáo trình luật lao động Việt Nam

Giáo trình luật lao động Việt Nam là tài liệu học thuật quan trọng do Trường Đại học Luật Hà Nội biên soạn. Giáo trình được tái bản lần thứ 9 vào năm 2018, có sửa đổi và bổ sung nội dung phù hợp với thực tiễn pháp luật hiện hành. Chủ biên là TS. Lưu Bình Nhưỡng cùng nhiều giảng viên, chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực luật lao động. Nội dung giáo trình dựa trên các quy định của Bộ luật lao động năm 1994, 2012 và các văn bản pháp luật liên quan. Giáo trình cũng tiếp cận hệ thống pháp luật lao động quốc tế, đặc biệt là các công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế ILO. Mục đích chính là gợi mở, hướng dẫn phương pháp nghiên cứu và cung cấp kiến thức nền tảng cho sinh viên luật.

1.1. Phạm vi điều chỉnh của luật lao động

Luật lao động là ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội trong lĩnh vực lao động. Phạm vi bao gồm hai loại chính: quan hệ lao động cá nhân giữa người lao động và người sử dụng lao động; quan hệ lao động tập thể phát sinh từ quá trình thương lượng, ký kết và thực hiện thỏa ước lao động tập thể. Ngoài ra còn có các quan hệ liên quan như quản lý nhà nước về lao động và giải quyết tranh chấp lao động.

1.2. Tính chất tư pháp của luật lao động

Quan hệ trong lĩnh vực lao động thuộc nhóm quan hệ tư, luật lao động thuộc lĩnh vực tư pháp. Nhận thức này có ý nghĩa quan trọng trong quá trình xây dựng pháp luật lao động. Trước đây, việc không xác định rõ tính chất tư pháp hay công pháp dẫn đến nhiều vướng mắc trong soạn thảo luật. Hiện nay, quan điểm luật lao động là lĩnh vực luật tư giúp giải quyết thực tế: quy định hợp pháp của người sử dụng lao động có giá trị bắt buộc trong đơn vị đó.

II. Phân tích các loại quan hệ lao động trong giáo trình

Giáo trình phân tích chi tiết các loại quan hệ lao động chính trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Quan hệ lao động cá nhân phát sinh khi người lao động thực hiện công việc cho người sử dụng lao động theo hợp đồng lao động. Quan hệ lao động tập thể hình thành khi tập thể lao động tiến hành thương lượng với người sử dụng lao động về điều kiện làm việc, tiền lương và phúc lợi. Quan hệ giải quyết đình công phát sinh khi có tranh chấp tập thể không thể giải quyết bằng thương lượng. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết là tòa án nhân dân cấp tỉnh, cụ thể là tòa lao động thuộc tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi xảy ra đình công. Giáo trình nhấn mạnh vai trò quan trọng của thỏa ước lao động tập thể trong việc ổn định quan hệ lao động và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động.

2.1. Quan hệ lao động cá nhân và hợp đồng lao động

Quan hệ lao động cá nhân là quan hệ cơ bản nhất trong lĩnh vực lao động. Người lao động cam kết làm việc cho người sử dụng lao động dưới sự quản lý, điều hành và trả công. Hợp đồng lao động là văn bản pháp lý xác lập quan hệ này, quy định quyền và nghĩa vụ của các bên. Giáo trình hướng dẫn cách hiểu và áp dụng các quy định về hợp đồng lao động, thời hạn hợp đồng, điều kiện lao động và chế độ đãi ngộ.

2.2. Quan hệ lao động tập thể và thỏa ước lao động

Quan hệ lao động tập thể phát sinh khi người lao động tổ chức thành tập thể để thương lượng với người sử dụng lao động. Thỏa ước lao động tập thể là kết quả của quá trình thương lượng, quy định các điều kiện lao động áp dụng cho tập thể người lao động. Giáo trình trình bày quy trình thương lượng tập thể, vai trò của công đoàn và các quy định pháp luật về đình công hợp pháp.

III. Phương pháp tiếp cận nghiên cứu luật lao động

Giáo trình luật lao động Việt Nam áp dụng phương pháp tiếp cận hệ thống và toàn diện. Phương pháp nghiên cứu bao gồm phân tích pháp luật nội dung, so sánh với pháp luật quốc tế và đánh giá thực tiễn áp dụng. Giáo trình sử dụng phương pháp gợi mở, hướng dẫn sinh viên tự nghiên cứu và tư duy pháp lý. Nội dung được trình bày theo logic từ tổng quan đến chi tiết, từ lý thuyết đến thực tiễn. Phương pháp so sánh với hệ thống pháp luật lao động quốc tế, đặc biệt là các công ước ILO, giúp người học có cái nhìn rộng hơn. Giáo trình cũng khuyến khích việc phân tích các vụ việc thực tế để hiểu rõ cách áp dụng pháp luật lao động trong đời sống.

3.1. Phương pháp phân tích pháp luật nội dung

Phương pháp phân tích pháp luật nội dung tập trung vào việc nghiên cứu các quy định cụ thể của Bộ luật lao động và các văn bản hướng dẫn. Người học được hướng dẫn cách đọc hiểu điều luật, xác định phạm vi điều chỉnh và mối quan hệ giữa các quy định. Phương pháp này giúp xây dựng nền tảng kiến thức vững chắc về hệ thống pháp luật lao động Việt Nam.

3.2. Phương pháp so sánh pháp luật quốc tế

Giáo trình áp dụng phương pháp so sánh giữa pháp luật lao động Việt Nam và hệ thống pháp luật quốc tế. Các công ước của ILO được sử dụng làm tiêu chuẩn tham chiếu. Phương pháp này giúp người học nhận thấy điểm tương đồng và khác biệt giữa các hệ thống pháp luật, từ đó đánh giá mức độ hội nhập quốc tế của pháp luật lao động Việt Nam.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn của giáo trình

Giáo trình luật lao động Việt Nam là tài liệu học tập không thể thiếu cho sinh viên luật và người nghiên cứu pháp luật lao động. Nội dung giáo trình cung cấp kiến thức toàn diện từ lý thuyết đến thực tiễn, từ pháp luật nội địa đến quốc tế. Giáo trình giúp người học hiểu rõ bản chất của quan hệ lao động, vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ quyền lợi các bên.Ứng dụng thực tiễn của giáo trình thể hiện trong việc đào tạo nguồn nhân lực pháp luật chất lượng cao. Sinh viên sau khi học xong có khả năng tư vấn pháp luật lao động, giải quyết tranh chấp và tham gia xây dựng chính sách lao động. Giáo trình cũng là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho doanh nghiệp và người lao động trong việc hiểu và tuân thủ pháp luật.

4.1. Ứng dụng trong đào tạo luật

Giáo trình được sử dụng làm tài liệu chính thức tại Trường Đại học Luật Hà Nội và nhiều cơ sở đào tạo luật khác. Nội dung được xây dựng phù hợp với chương trình đào tạo cử nhân luật, giúp sinh viên tiếp cận kiến thức một cách hệ thống. Giáo trình cũng phục vụ nhu cầu nghiên cứu chuyên sâu về luật lao động cho học viên cao học và nghiên cứu sinh.

4.2. Ứng dụng trong thực tiễn lao động

Kiến thức từ giáo trình được ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn quản lý lao động. Doanh nghiệp sử dụng để hiểu rõ quy định pháp luật, xây dựng nội quy lao động phù hợp. Người lao động tham khảo để bảo vệ quyền lợi hợp pháp. Luật sư và chuyên gia tư vấn sử dụng giáo trình làm nguồn tham khảo khi giải quyết các vụ việc liên quan đến tranh chấp lao động.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 Giáo trình luật lao động Việt Nam, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, 1999; Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật lao động Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2002; Đại học Huế, Giáo trình luật lao động, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2003.

14 động này đều phát sinh trên cơ sở HĐLĐ. Cụ thẻ, đối tượng điều chinh của luật lao động bao gồm quan hệ lao động theo HDLĐ giữa NLĐ với: - Các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước, các tổ chức chính trị, tổ chức xã hội-nghề nghiệp, các hợp tác xã; - Các doanh nghiệp ngoài quốc đoanh, các doanh nghiệp có vốn đầu tr nước ngoài; - Các cơ quan, tổ chức nước ngoài, tô chức phi chính phủ hoặc tổ chức quốc tế tại Việt Nam; - Các gia đình, cá nhân sử dụng lao động ở Việt Nam. Trong đó, các quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài (bao gồm cả quan hệ lao động của người nước ngoài làm việc cho các tổ chức, cá nhân được phép sử dụng lao động nước ngoài tại Việt Nam) còn có thể là đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế. Nếu có các điều ước quốc tế mà Việt Nam là một bên kí kết hoặc tham.

gia có quy định khác thì quan hệ lao động này sẽ do các điều ước quốc tế đó điều chỉnh. Nếu không thuộc trường hợp đó thì quan hệ lao động sẽ do luật lao động điều chỉnh (Điều 3 BLLĐ). Đối với các quan hệ lao động nêu trên, các chủ thể của quan hệ phải tuân theo các quy định của luật lao động trong tất cá các khâu, các giai đoạn của quan hệ đó như: thiết lập quan hệ (giao kết HĐLĐ), thực hiện quan hệ (thực hiện, thay đổi, tạm hoãn HĐLĐ, phân công, điều hành quá trình làm việc), chấm đứt quan hệ (đơn phương hoặc đương nhiên) và cả việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ quan hệ lao động Ấy. Điều dé có nghĩa là pháp luật lao động tác động tương đối toàn diện đến quan hệ lao động làm công ăn lương thuộc đối tượng điều chính của nó theo những hướng vận hành nhất định, có tính bắt buộc chưng.

Như vậy, luật lao động hiện bành không diéu chỉnh các quan hệ khác, mặc dù có yếu tố lao động, rất gẦn gũi với quan hệ lao động như quan hệ của các xã viên với hợp tác xã, quan hệ dich vụ, 15 gia công. Thực tế, những quan hệ này không phải là quan hệ lao động, không có yếu tố sử dụng lao động. Điều đó cũng phù hợp với các quy định khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay: những quan hệ này đã được Luật hợp tác xã, luật dân sự điều chỉnh. Quan hệ lao động của công chức, viên chức với Nhà nước cũng không nằm trong đối tượng điều chỉnh của luật lao động do những đặc thù đã phân tích ở trên.

Quan hệ này đã được quy định trong luật hành chính (Pháp lệnh về cần bộ, công chức). Điều đó cũng phù hợp với quy định tại các Điều 56 và Điều 63 Hiến pháp năm 1992. Các điều luật này đã có sự phân biệt mang tính chủ đạo về đổi tượng lao động là viên chức nhà nước và những người làm công än lương. Sự phân định này trong hệ thống pháp luật Việt Nam thể hiện yêu cầu khách quan của sự phù hợp giữa loại quy phạm pháp luật điều chỉnh và tính chất của quan hệ xã hội được điều chỉnh.

Tuy nhiên, trên thực tế có những quan hệ thuê mướn thực hiện công việc nhưng không dễ để kết luận ngay rằng ở đó có sự sử dụng sức lao động như quan bệ lao động hay đó chỉ là quan hệ dịch vụ theo hình thức thuê khoán dân sự. Đặc biệt, khi các bên thiết lập quan hệ ngắn han theo vụ việc, chỉ thoả thuận về công việc và tiền công. NLÐ được trả công theo hình thức công nhật hoặc công khoán theo sản phẩm thực tế. Họ cũng phải tuân theo những yêu cầu nào đó nhưng công việc thuộc loại đơn giản, yếu tố tổ chức, quản lí lao động không rõ ràng.

Những quan hệ như vậy rất khó phân biệt nên nếu cố tranh chấp, các bên phải tự chứng mình quan hệ của họ có dấu hiệu của quan hệ lao động hay không. Nếu không chứng minh được có sự quản lí của một bên và có sự phục tùng của bên kia trong quá trình làm việc thì quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sẽ được giải quyết theo các quy định của luật đân sự. Nói cách khác, nếu các đấu hiệu của quan hệ lao động không rõ ràng, luật đân sự sẽ được sử dụng để điều chỉnh quan hệ đó. Tương tự như vậy, trong một vài trường hợp, sự khác nhau của 16 quan hệ lao động hợp đồng và quan hệ lao động của công chức nhà nước cũng rất mỏng manh và mang tính hình thức.

Đó là trường hợp NLÐ vào làm việc tại cơ quan nhà nước theo hình thức HĐLĐ với công việc và mức lương thoả thuận. Lúc này, quan hệ lao động của họ do luật lao động điều chỉnh. Sau khi có chỉ tiêu biến chế nhà nước, họ được tuyến dụng vào làm việc theo chế độ công chức nhà nước bằng quyết định hành chính, công việc và mức lương có thê chưa thay đổi: song, quan hệ lao động của họ đã thay đổi cơ bản, đã trở thành quan hệ lao động giữa công chức với Nha nước, do luật hành chính điều chỉnh. Nhự vậy, có thể khẳng định đối tượng điều chỉnh chủ yếu của luật lao động Việt Nam là quan hệ lao động làm công ăn lương - quan bệ lao động phát sinh trên cơ sở HĐLĐ, giữa NLÐ làm công và NSDLĐ.

Điều đó phù hợp với xu hướng chung trên bình điện quốc tế và đảm báo tính hài hoà trong hệ thống pháp luật hiện hành. Ngoài ra, các văn bản là nguồn chủ yếu của luật lao động cũng có thể được áp đụng với một số quan hệ phù hợp khác đồng thời là nguồn của các ngành luật đó. Quan hệ lao động tập thể Khi tham gia quan hệ lao động, NLĐ giao kết HĐLĐ với NSDLD. Quan hệ giữa NLĐ với NSDLĐ là quan hệ lao động cá nhân.

Tuy nhiên, những hoạt động lao động mà NLÐ thực hiện trong quá trình lao động không phải là hoạt động mang tính đơn lẻ mà là hoạt động mang tính tập thể, có sự tham gia của nhiều NLĐ. Những NLĐ cùng nhau thực hiện công việc trong điều kiện chung, theo quy chế quản lý và chế độ lao động chung, Điều đó ngẫu nhiên gắn kết họ, hình thành nên tập thể NLĐ. Hơn nữa, những NLĐ này, do bị phụ thuộc ở mức độ nhất định vào NSDLĐ nên chính họ cũng có nhu cầu liên kết với nhau để cải thiện vị thế phụ thuộc của mình. Họ muốn tập trung sức mạnh để có thể bình đẳng hơn với bên kia trong việc thoả thuận.và-lợi ích trong THU VIEN TRƯỜNG ĐẠI HỤC NỘI VỤ HÀ NộI PHÂN HIỆU Tal TP.

HCN 17 đất uc [bia—. quan hệ lao động. Nhiéu khi sức mạnh tập thể còn giúp NLĐ thắng lợi trong những cuộc đấu tranh giành quyển lợi cao hơn so với quy định của pháp luật mà nếu một cá nhân NLÐ sẽ không thể dat được. NSDLĐ vì chiếm vị trí thế mạnh trong quan hệ lao động nên đôi khi có xu hướng lạm quyển trong quản lí, điều hành, phân phối.

đi ngược lại với mong muốn chung của NLĐ, Bởi vậy, NLÐ thường liên kết lại với nhau, tạo ra sức mạnh tập thể để hạn chế xu hướng lạm quyền của NSDLĐ đồng thời bảo vệ quyền lợi cho mình. Sự liên kết này đân được hình thành dưới đạng có tổ chức để hoạt động có hiệu quả hơn trong quan hệ với NSDLĐ. Do đó, trong quan hệ lao động thường có sự xuất hiện của chủ thể thứ ba đó là tập thể lao động hoặc đại diện tập thể lao động và quan hệ giữa lập thể lao động hoặc đại diện tập thể lao động với NSDLĐ được gọi là quan hệ lao động tập thể. Do đó, quan hệ lao động tập thể được hiểu là quan hệ giữa tập thể lao động (hoặc đại điện tập thể lao động) và NSDLĐ hoặc đại diện NSDLĐ về các vấn đề phát sinh trong quan hệ ao động.

Như vậy, các bên tham gia quan hệ lao động tập thê bao gồm một bên là tập thê lao động và một bên là NSDLĐ. Tập thể lao động là tập hợp có tổ chức của NLĐ cùng làm việc trong một phạm vi nhất định. Tập thể lao động là khái niệm mở, được xác định ở những phạm vì nhất định như bộ phận doanh nghiệp, doanh nghiệp, ngành. Tập thể lao động ra đời không cần có sự cho phép hay xác nhận của công quyền hoặc sự cho phép của NSDLĐ.

NLĐ cũng không phải tiên hành các thủ tục, lễ nghỉ chính thức đề thành lập tập thể lao động của mình. Trong quan hệ với NSDLĐ, tập thể lao động chủ yếu thực hiện quyền và nghĩa vụ thông qua người đại điện. Ở Việt Nam và nhiều nước khác, Nhà nước thừa nhận tổ chức công đoàn là đại điện chính thức cho tập thể lao động. 'Trong quá trình tồn tại, tổ chức công đoàn có thể tham gia nhiều mối quan hệ xã hội thuộc nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau.

Khi tổ chức công 18 đoàn tham gia quan hệ với NSDLĐ hữu quan để giải quyết các vẫn đề phát sinh trong phạm vi những quan hệ lao động mà công đoàn đại điện thì mối quan hệ đó phải tuân theo các quy định của luật lao động. Thông thường, công đoàn tham gia với NSDLĐ khi xác lập quyển, lợi ích của tập thể lao động và nguyên tắc chung trong mỗi quan hệ giữa các bên, tham gia với NSDLĐ trong việc đâm bảo điều kiện lao động chung, hợp lí. Khi được thừa nhận là tổ chức đại diện chính thức, công đoàn không chỉ đại điện cho các công đoàn viên của mình mà còn đại điện cho những NLĐ không phải là công đoàn viên hoặc giới lao động nói chung trong toàn xã hội. Tuy nhiên, điều đó làm cho các tập thể lao động tại các đơn vị không có tổ chức công đoàn không được hưởng quyền có đại diện đích thực của mình.

Đó cũng là vấn đề mà thực tế đời sống lao động và định hướng điều tiết của pháp luật lao động đang phải tìm giải pháp chung hữu hiệu hơn. Quan hệ lao động tập thế có hai đặc điểm căn bản.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ