Giáo trình Dung sai lắp ghép và Kỹ thuật đo lường (CĐ GTVT Trung ương I)

Giáo trình dung sai lắp ghép và kỹ thuật đo lường cho nghề vận hành máy thi công mặt đường trình độ trung cấp, cung cấp kiến thức chuyên sâu.

Trường đại học

Trường Cao Đẳng Nghề

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo Trình
114
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan giáo trình dung sai lắp ghép nghề vận hành máy

Giáo trình dung sai lắp ghép và kỹ thuật đo lường là tài liệu học thuật nền tảng cho đào tạo nghề vận hành máy xây dựng, đặc biệt là máy thi công mặt đường trình độ trung cấp. Kiến thức này không chỉ trang bị cho học viên những khái niệm cơ bản về cơ khí chính xác mà còn là kỹ năng cốt lõi để đảm bảo máy móc hoạt động ổn định và hiệu quả. Trong bối cảnh khoa học kỹ thuật phát triển, các chi tiết máy được thiết kế và chế tạo với độ chính xác ngày càng cao. Do đó, người thợ vận hành cần hiểu rõ bản chất của dung sai để thực hiện lắp ráp, sửa chữa và bảo dưỡng kỹ thuật máy xây dựng một cách chuyên nghiệp. Giáo trình cung cấp một hệ thống kiến thức toàn diện, từ các khái niệm cơ bản như kích thước danh nghĩa, sai lệch giới hạn, đến các hệ thống dung sai lắp ghép theo Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN). Nội dung được biên soạn dựa trên sự kế thừa từ nhiều tài liệu dung sai kỹ thuật của các trường đại học, cao đẳng, kết hợp với yêu cầu thực tiễn của ngành. Mục tiêu chính là giúp học viên nắm vững cách đọc bản vẽ kỹ thuật cơ khí, sử dụng thành thạo các dụng cụ đo lường và áp dụng nguyên tắc tính lắp lẫn vào công việc. Việc trang bị kiến thức này là yêu cầu bắt buộc để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu ngày càng khắt khe của ngành thi công cơ giới hiện đại.

1.1. Tầm quan trọng của tính lắp lẫn trong ngành cơ khí

Tính lắp lẫn là khả năng thay thế các chi tiết cùng loại cho nhau trong quá trình lắp ghép mà không cần lựa chọn hay sửa chữa thêm, vẫn đảm bảo yêu cầu kỹ thuật. Đây là điều kiện cơ bản của nền sản xuất tiên tiến. Có hai loại tính lắp lẫn: lắp lẫn hoàn toàn và không hoàn toàn. Lắp lẫn hoàn toàn đòi hỏi chi tiết có độ chính xác rất cao, do đó chi phí sản xuất lớn, thường áp dụng cho các chi tiết tiêu chuẩn như bu-lông, đai ốc, ổ lăn. Lắp lẫn không hoàn toàn cho phép dung sai lớn hơn, thường thực hiện trong nội bộ nhà máy. Trong sản xuất, tính lắp lẫn giúp đơn giản hóa quá trình lắp ráp, tạo điều kiện chuyên môn hóa và hợp tác sản xuất giữa các xí nghiệp, từ đó nâng cao năng suất và hạ giá thành. Trong sửa chữa máy thi công mặt đường, việc thay thế một chi tiết hỏng (piston, xéc măng) bằng một chi tiết dự trữ có tính lắp lẫn sẽ giúp giảm đáng kể thời gian dừng máy, tận dụng tối đa hiệu suất làm việc. Yếu tố quyết định tính lắp lẫn chính là dung sai - phạm vi cho phép của sai số chế tạo kích thước.

1.2. Các khái niệm nền tảng sai lệch giới hạn và lắp ghép

Để hiểu về dung sai, cần nắm vững các khái niệm cơ bản. Kích thước danh nghĩa (d, D) là kích thước được xác định dựa vào chức năng và được tiêu chuẩn hóa. Kích thước thực là kích thước đo được trực tiếp trên chi tiết. Do không thể gia công chính xác tuyệt đối, người ta quy định hai kích thước giới hạn: lớn nhất (dmax, Dmax) và nhỏ nhất (dmin, Dmin). Sai lệch giới hạn là hiệu số giữa kích thước giới hạn và kích thước danh nghĩa, bao gồm sai lệch giới hạn trên (es, ES) và sai lệch giới hạn dưới (ei, EI). Theo TCVN 2244 - 77, các giá trị này có thể dương, âm hoặc bằng không. Dung sai (IT) là hiệu số giữa kích thước giới hạn lớn nhất và nhỏ nhất (IT = dmax - dmin), giá trị này luôn dương. Dung sai càng nhỏ, độ chính xác của chi tiết càng cao. Các khái niệm này là cơ sở để xác định và kiểm soát chất lượng chi tiết, đảm bảo chúng có thể lắp ghép với nhau theo đúng yêu cầu thiết kế.

II. Thách thức về sai số gia công và các loại lắp ghép cơ bản

Trong quá trình chế tạo, sai số là yếu tố không thể tránh khỏi và là thách thức lớn đối với việc đảm bảo độ chính xác của chi tiết máy. Các sai số này phát sinh từ nhiều nguyên nhân như: độ chính xác của máy công cụ, độ mòn của dao cắt, độ cứng vững của hệ thống công nghệ, biến dạng do lực kẹp, nhiệt độ và cả sai sót của người thợ. Việc hiểu rõ nguyên nhân và phân loại sai số giúp người vận hành có biện pháp phòng ngừa và hạn chế tác động tiêu cực. Sai số gia công được chia thành hai loại chính: sai số hệ thống (có quy luật, có thể dự đoán) và sai số ngẫu nhiên (biến đổi không theo quy luật). Các sai số này không chỉ ảnh hưởng đến kích thước mà còn gây ra sai lệch về hình dạng (độ tròn, độ phẳng) và vị trí tương quan giữa các bề mặt (độ song song, độ vuông góc). Đối với người vận hành máy lu, máy rải thảm, máy san, việc nhận biết các dấu hiệu hỏng hóc do sai số lắp ghép gây ra là cực kỳ quan trọng để tiến hành bảo dưỡng kỹ thuật máy xây dựng kịp thời, tránh các sự cố nghiêm trọng. Việc lựa chọn đúng loại lắp ghép phù hợp với chức năng của từng bộ phận cũng là một giải pháp để kiểm soát ảnh hưởng của sai số.

2.1. Phân loại 3 nhóm lắp ghép chính theo TCVN 2244 77

Dựa trên mối quan hệ kích thước giữa chi tiết bị bao (trục) và chi tiết bao (lỗ), TCVN 2244 - 77 chia lắp ghép thành ba nhóm chính. Lắp ghép có độ hở xảy ra khi kích thước lỗ luôn lớn hơn kích thước trục, tạo ra một khe hở (S) cho phép các chi tiết chuyển động tương đối với nhau. Lắp ghép có độ dôi là trường hợp kích thước trục luôn lớn hơn kích thước lỗ, tạo ra sự cố định bền chặt giữa hai chi tiết sau khi lắp do biến dạng đàn hồi. Lắp ghép trung gian là loại quá độ, tùy thuộc vào kích thước thực tế của chi tiết mà mối ghép có thể có độ hở hoặc độ dôi. Mỗi nhóm lắp ghép được đặc trưng bởi các giá trị giới hạn như độ hở lớn nhất (Smax), độ hở nhỏ nhất (Smin), độ dôi lớn nhất (Nmax), và độ dôi nhỏ nhất (Nmin). Việc lựa chọn nhóm lắp ghép nào phụ thuộc hoàn toàn vào chức năng của mối ghép trong cụm máy.

2.2. Nguyên nhân gây sai số hình dạng và vị trí khi gia công

Sai số hình dạng và vị trí là sự khác biệt giữa bề mặt thực tế của chi tiết so với bề mặt hình học lý tưởng trên bản vẽ. Các nguyên nhân chính bao gồm: Độ chính xác của máy móc, ví dụ trục chính máy tiện bị mòn gây ra chi tiết không tròn. Độ chính xác của dụng cụ cắt, như mũi doa bị mòn làm đường kính lỗ gia công bị sai lệch. Độ cứng vững của hệ thống công nghệ (Máy - Đồ gá - Dao - Chi tiết) kém sẽ gây ra rung động và biến dạng. Biến dạng do lực kẹp đặc biệt ảnh hưởng đến các chi tiết có thành mỏng. Biến dạng nhiệt do nhiệt phát sinh trong quá trình cắt làm thay đổi kích thước. Cuối cùng là rung động trong quá trình cắt ảnh hưởng lớn đến độ nhám bề mặt. Hiểu rõ các nguyên nhân này giúp người thợ lựa chọn chế độ gia công và phương pháp gá đặt phù hợp để giảm thiểu sai số, nâng cao chất lượng sản phẩm.

III. Hướng dẫn đọc bản vẽ kỹ thuật cơ khí và tra cứu TCVN

Kỹ năng đọc bản vẽ chi tiết máy là một trong những yêu cầu cơ bản và quan trọng nhất đối với người thợ kỹ thuật. Bản vẽ kỹ thuật cơ khí không chỉ là một bản vẽ hình học mà còn là một tài liệu chứa đựng toàn bộ thông tin kỹ thuật cần thiết để chế tạo, lắp ráp và kiểm tra sản phẩm. Các thông tin này bao gồm kích thước, dung sai, sai lệch hình dạng, vị trí, độ nhám bề mặt và các yêu cầu kỹ thuật khác. Việc hiểu sai hoặc bỏ sót thông tin trên bản vẽ có thể dẫn đến sản phẩm không đạt yêu cầu, gây lãng phí thời gian và vật liệu. Để đọc bản vẽ chính xác, người học cần nắm vững các quy ước về đường nét, hình chiếu, ký hiệu vật liệu và đặc biệt là cách ghi dung sai kích thước. Giáo trình cung cấp các hướng dẫn chi tiết về cách ghi kích thước và sai lệch giới hạn theo tiêu chuẩn TCVN. Việc thành thạo kỹ năng này giúp người thợ có thể hình dung chính xác chi tiết máy, từ đó lập kế hoạch gia công, lựa chọn dụng cụ đo và phương pháp kiểm tra phù hợp, đảm bảo chi tiết được chế tạo đúng với yêu cầu thiết kế.

3.1. Phương pháp tra cứu bảng tra dung sai lắp ghép TCVN

Hệ thống dung sai lắp ghép của Việt Nam (TCVN) được xây dựng thống nhất với tiêu chuẩn quốc tế (ISO), giúp đảm bảo tính đổi lẫn và hợp tác sản xuất. Để xác định sai lệch giới hạn và dung sai cho một kích thước, cần tra cứu các bảng trong tiêu chuẩn, ví dụ TCVN 2245-99. Quá trình tra cứu gồm các bước: xác định kích thước danh nghĩa, lựa chọn cấp chính xác (ví dụ: IT7, IT8) dựa trên yêu cầu về độ chính xác của chi tiết, và chọn miền dung sai (ví dụ: H7, g6) dựa trên kiểu lắp ghép mong muốn (lắp lỏng, chặt hay trung gian). Cấp chính xác càng nhỏ (ví dụ IT5, IT6) thì dung sai càng nhỏ và chi tiết càng chính xác. Các bảng tra dung sai lắp ghép TCVN cung cấp giá trị sai lệch giới hạn trên (ES, es) và dưới (EI, ei) cho từng khoảng kích thước danh nghĩa, cấp chính xác và ký hiệu miền dung sai. Việc tra cứu chính xác là bước đầu tiên để đảm bảo mối ghép hoạt động đúng chức năng.

3.2. Cách ghi ký hiệu dung sai trên bản vẽ chi tiết máy

Trên bản vẽ kỹ thuật, dung sai và sai lệch giới hạn được ghi theo nhiều cách. Cách phổ biến nhất là ghi kết hợp kích thước danh nghĩa với ký hiệu miền dung sai, ví dụ: Ø40H7 hoặc Ø40g6. Trong đó, 'Ø40' là kích thước danh nghĩa, 'H' hoặc 'g' là ký hiệu sai lệch cơ bản xác định vị trí miền dung sai so với đường không, và '7' hoặc '6' là cấp chính xác. Một cách khác là ghi trực tiếp giá trị sai lệch giới hạn, ví dụ: Ø40 (+0.025/0) hoặc Ø40 (-0.009/-0.025). Cách ghi này cung cấp trực tiếp các giá trị số, thuận tiện cho quá trình gia công và kiểm tra. Đối với bản vẽ lắp, người ta thường ghi ký hiệu lắp ghép dưới dạng phân số, ví dụ: Ø60 H7/e8. Ký hiệu này cho biết đây là mối ghép giữa lỗ có miền dung sai H7 và trục có miền dung sai e8, với kích thước danh nghĩa chung là 60mm. Việc hiểu rõ các cách ghi này là bắt buộc để diễn giải đúng yêu cầu kỹ thuật của bản vẽ.

IV. Bí quyết sử dụng các dụng cụ đo lường cơ khí chính xác

Kỹ thuật đo lường là khâu không thể thiếu để kiểm soát và đảm bảo chất lượng trong chế tạo cơ khí. Việc lựa chọn và sử dụng đúng dụng cụ đo lường cơ khí quyết định trực tiếp đến độ chính xác của sản phẩm. Các dụng cụ đo thông dụng như thước cặp, panme, đồng hồ so... đều có công dụng, cấu tạo và nguyên lý hoạt động riêng. Người thợ vận hành không chỉ cần biết cách đọc trị số mà còn phải nắm vững kỹ thuật đo để hạn chế sai số. Sai số đo có thể đến từ bản thân dụng cụ (độ mòn, độ chính xác), môi trường (nhiệt độ) và quan trọng nhất là từ người đo (cách cầm, lực đo, góc nhìn). Do đó, trước mỗi lần đo, cần phải làm sạch bề mặt chi tiết và đầu đo của dụng cụ, đồng thời tiến hành kiểm tra và hiệu chuẩn thiết bị đo để đảm bảo dụng cụ đang ở trạng thái tốt nhất. Việc áp dụng đúng phương pháp đo, chẳng hạn như đo tại nhiều vị trí để xác định độ côn, độ ô van, sẽ cung cấp một cái nhìn toàn diện về chất lượng hình học của chi tiết. Sự thành thạo trong kỹ thuật đo lường là thước đo tay nghề của một người thợ kỹ thuật chuyên nghiệp.

4.1. Kỹ thuật đo với thước kẹp panme và đồng hồ so

Thước kẹp (thước cặp) là dụng cụ đo phổ biến để đo kích thước ngoài, trong và chiều sâu với độ chính xác thường là 0.02mm, 0.05mm. Khi đo, cần đảm bảo mỏ đo vuông góc với bề mặt chi tiết và tác dụng một lực đo vừa phải. Panme cho độ chính xác cao hơn (thường là 0.01mm), dùng để đo đường kính ngoài, đường kính trong hoặc chiều sâu. Nguyên tắc hoạt động của panme dựa trên cơ cấu vít me - đai ốc, cần chú ý sử dụng núm giới hạn lực đo (nắp vặn có tiếng kêu) để đảm bảo lực đo không đổi giữa các lần đo. Đồng hồ so là dụng cụ đo so sánh, dùng để kiểm tra sai lệch hình học (độ đảo, độ song song, độ phẳng) hoặc kiểm tra kích thước bằng cách so sánh với một mẫu chuẩn. Khi sử dụng, kim đồng hồ ban đầu được chỉnh về vạch '0' tại vị trí chuẩn, sự di chuyển của kim sẽ cho biết sai lệch của bề mặt kiểm tra so với bề mặt chuẩn.

4.2. Quy trình kiểm tra và hiệu chuẩn thiết bị đo cơ bản

Để đảm bảo kết quả đo đáng tin cậy, việc kiểm tra và hiệu chuẩn định kỳ các thiết bị đo là bắt buộc. Quy trình cơ bản bắt đầu bằng việc làm sạch dụng cụ. Đối với panme loại 0-25mm, kiểm tra điểm '0' bằng cách cho hai mỏ đo tiếp xúc với nhau; vạch '0' trên ống động phải trùng với đường chuẩn trên ống cố định. Đối với các panme có giới hạn đo lớn hơn, cần sử dụng căn mẫu chuẩn đi kèm để kiểm tra. Với thước kẹp, kiểm tra bằng cách đóng hoàn toàn mỏ đo, vạch '0' của du xích phải trùng với vạch '0' của thước chính. Đối với đồng hồ so, việc kiểm tra thường phức tạp hơn và cần các thiết bị chuyên dụng, nhưng người dùng có thể kiểm tra sơ bộ độ nhạy và độ ổn định bằng cách tác động nhẹ lên đầu đo. Mọi thiết bị đo sau một thời gian sử dụng đều cần được gửi đến các phòng thí nghiệm có chức năng hiệu chuẩn để đảm bảo độ chính xác theo tiêu chuẩn.

V. Ứng dụng dung sai vào vận hành máy thi công mặt đường

Kiến thức về dung sai lắp ghép và kỹ thuật đo lường có ứng dụng trực tiếp và sâu rộng trong việc vận hành, bảo dưỡng các loại máy thi công mặt đường. Từ máy lu, máy rải thảm đến máy san, mỗi cỗ máy là một tổ hợp phức tạp của hàng ngàn chi tiết cơ khí được lắp ghép với nhau. Sự ăn khớp chính xác giữa các bộ phận như trục, ổ lăn, bánh răng, xi lanh, piston... quyết định đến hiệu suất, độ bền và sự an toàn của máy. Người vận hành có kiến thức nền tảng về dung sai sẽ hiểu được tại sao một số mối ghép cần độ hở để bôi trơn và chuyển động (trục quay trong bạc lót), trong khi một số khác lại cần độ dôi để truyền lực và cố định chắc chắn (vòng ngoài ổ bi lắp vào thân hộp). Hiểu biết này giúp họ nhận diện các vấn đề tiềm ẩn thông qua các dấu hiệu bất thường như tiếng ồn, rung động quá mức hoặc rò rỉ dầu, những hiện tượng thường bắt nguồn từ việc các chi tiết bị mài mòn vượt quá dung sai cho phép. Điều này đóng vai trò quan trọng trong việc lập kế hoạch và thực hiện bảo dưỡng kỹ thuật máy xây dựng một cách chủ động.

5.1. Phân tích cấu tạo máy thi công mặt đường điển hình

Để áp dụng kiến thức dung sai, cần hiểu rõ cấu tạo máy thi công mặt đường. Ví dụ, trong hệ thống truyền động của máy lu, các cặp bánh răng phải được lắp ghép với khe hở mặt bên (backlash) nằm trong giới hạn dung sai cho phép để đảm bảo truyền động êm và tránh kẹt răng. Các trục bánh xe được lắp trên các ổ lăn. Việc lắp vòng trong của ổ lăn với trục và vòng ngoài với gối đỡ phải tuân thủ nghiêm ngặt các kiểu lắp theo khuyến nghị của nhà sản xuất, thường là lắp trung gian hoặc có độ dôi nhỏ để tránh hiện tượng xoay trượt gây mòn. Trong hệ thống thủy lực của máy san, piston và xi lanh là một cặp lắp ghép có độ hở rất nhỏ, được kiểm soát chặt chẽ để vừa cho phép piston di chuyển nhẹ nhàng, vừa đảm bảo làm kín, tránh rò rỉ dầu thủy lực áp suất cao. Việc kiểm tra và thay thế các chi tiết này đòi hỏi phải đo đạc chính xác để chọn đúng phụ tùng thay thế.

5.2. Quy trình vận hành máy thi công an toàn và hiệu quả

Một quy trình vận hành máy thi công hiệu quả không chỉ dừng lại ở việc điều khiển các chức năng của máy. Nó bao gồm cả việc kiểm tra máy móc trước mỗi ca làm việc. Người vận hành cần kiểm tra trực quan các mối ghép quan trọng, kiểm tra độ rơ của các cơ cấu khớp nối. Ví dụ, kiểm tra độ rơ của khớp nối giữa lưỡi ben và tay chang trên máy san. Nếu độ rơ này quá lớn (do mòn chốt và bạc lót), việc điều khiển san gạt chính xác sẽ rất khó khăn. Tương tự, việc kiểm tra độ căng của xích trên các máy rải thảm bánh xích cũng là một dạng kiểm soát dung sai lắp ghép trong thực tế. Vận hành máy trong tình trạng các mối ghép bị mòn, lỏng lẻo không chỉ làm giảm hiệu suất mà còn tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn lao động trong thi công cơ giới. Do đó, kiến thức về dung sai giúp người vận hành đưa ra quyết định đúng đắn về việc khi nào cần dừng máy để bảo dưỡng, sửa chữa.

VI. Con đường sự nghiệp yêu cầu an toàn cho thợ vận hành

Hoàn thành chương trình đào tạo nghề vận hành máy xây dựng với nền tảng kiến thức vững chắc về dung sai lắp ghép và kỹ thuật đo lường sẽ mở ra con đường sự nghiệp bền vững cho người học. Trong ngành thi công cơ giới, người thợ không chỉ đơn thuần là người lái máy mà còn là người chịu trách nhiệm về tình trạng kỹ thuật của thiết bị trị giá hàng tỷ đồng. Sự am hiểu về cơ khí chính xác giúp họ trở nên khác biệt, có khả năng chẩn đoán sự cố, tham gia vào quá trình sửa chữa và bảo dưỡng, từ đó nâng cao giá trị bản thân trong mắt nhà tuyển dụng. Bên cạnh kiến thức chuyên môn, yếu tố an toàn lao động trong thi công cơ giới luôn được đặt lên hàng đầu. Công trường xây dựng là môi trường làm việc tiềm ẩn nhiều rủi ro, và việc vận hành các thiết bị cơ giới hạng nặng đòi hỏi sự tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc an toàn. Việc sở hữu chứng chỉ vận hành máy thi công hợp lệ không chỉ là yêu cầu pháp lý mà còn là minh chứng cho việc người lao động đã được đào tạo bài bản về cả kỹ năng vận hành và các biện pháp đảm bảo an toàn cho bản thân và những người xung quanh.

6.1. Tầm quan trọng của an toàn lao động trong thi công cơ giới

An toàn lao động là nguyên tắc tối cao trên mọi công trường. Đối với nghề vận hành máy thi công, các nguy cơ bao gồm va chạm, lật máy, sự cố từ các bộ phận chuyển động và áp lực cao của hệ thống thủy lực. Một mối ghép bị lỗi, một chi tiết bị mòn quá giới hạn dung sai có thể là nguyên nhân khởi đầu cho một tai nạn thảm khốc. Ví dụ, một bu-lông bị lỏng do lắp ghép sai có thể khiến một bộ phận nặng rơi xuống; một đường ống thủy lực bị nứt do rung động quá mức (gây ra bởi các khe hở lắp ghép lớn) có thể vỡ, gây bỏng và mất kiểm soát máy. Vì vậy, kiến thức về dung sai lắp ghép không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà còn liên quan trực tiếp đến an toàn. Việc kiểm tra định kỳ tình trạng kỹ thuật của máy, siết chặt các mối ghép và thay thế các chi tiết bị mòn là một phần không thể tách rời của văn hóa an toàn.

6.2. Điều kiện cần để nhận chứng chỉ vận hành máy thi công

Để được cấp chứng chỉ vận hành máy thi công, người lao động phải trải qua một khóa đào tạo và vượt qua kỳ thi sát hạch. Nội dung đào tạo bao gồm ba phần chính: lý thuyết chuyên môn, thực hành vận hành và an toàn lao động. Phần lý thuyết trang bị các kiến thức cốt lõi về cấu tạo máy thi công mặt đường, nguyên lý hoạt động, quy trình bảo dưỡng và các khái niệm cơ bản về dung sai, vật liệu. Phần thực hành giúp học viên làm quen và thành thạo các thao tác điều khiển máy trong điều kiện làm việc thực tế. Phần quan trọng nhất là an toàn lao động, bao gồm các quy tắc an toàn trước, trong và sau khi vận hành máy, cách xử lý các tình huống khẩn cấp và sử dụng các phương tiện bảo vệ cá nhân. Việc sở hữu chứng chỉ này khẳng định người vận hành có đủ năng lực và trách nhiệm để làm việc an toàn, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của pháp luật và nhà tuyển dụng.

17/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

BQ GIAO THONG VAN TAI TRUONG CAO DANG GIAO THONG VAN TAI TRUNG UONG I NH ON HOC ‘f S^Ra Ban hành theo Quyết địnhh số 19557 21/12/2017 của Hiệu trưởng Trường Cao ding GTVE Hà Nội, 2017 2 BO GIAO THONG VAN TAL TRUONG CAO DANG GIAO THONG VAN TAI TRUNG UONG I GIAO TRINH MON HOC : DUNG SAI LAP GHEP VA DO LUONG KY THUAT NGHE: VAN HANH MAY THI CONG MAT DUONG. TRINH DO: TRUNG CAP Hà Nội - 2017 MO DAU Hiện nay, cùng với sự phát triển nhanh chồng của khoa học kỹ thuật, và đặc biệt là trong thiết kế, chế tạo các chỉ tiết thiết bị Cơ khí ngày cảng có tính chính xác cao, đối với ngườii thợ sửa chữa ôtô, ngoài việc sau khi ra trơiờng cần nắm chắc những kiến thức về chuyên môn, sinh viên cần trang bị cho minh một số kiến thức chung về cơ khí nhất định. Dung sai lắp ghép và do lường kỹ thuật là một môn học đáp ứng được một phẩn của yêu câu đó. Trong môn học này sẽ trang bị cho sinh viên một số kiến thức cơ bản về tiêu chuẩn trình bày các bảndung sai cơ khi, giúp sinh viên hiểu được bản chất của dung sai lắp ghép và đo lường kỹ thuật , hiểu được cách trình bày một bản vẽ kỹ thuật và biết cách sử dụng một số dụng cụ vẽ thông dụng, một trong những kỹ năng rất quan trọng của. người thợ sửa chữa. Nội dung của giáo trình biên soạn được dựa trên sự: kế thừa nhiều tài liệu của các trường đại học và cao đảng, kết hợp với yêu cầu nâng cao chất lượng. dao tạo cho sinh viên các trường dạy nghề trong cả nước, Đẻ giúp cho sinh viên có thê nắm được những kiến thức cơ bản nhất của môn Dung sai lắp ghép và đo lường kỹ thuật ,nhóm biên soạn đã sắp xếp môn học thành từng chương theo thứ tự: Mặc dù đã rất có gắng nhơmg chắc chắn không tránh khỏi sai sót, tác giả rất mong nhận đượcý kiến đóng góp của ngườii đọc để lần xuất bản sau giáo trình được hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn! MỤC LỤC Nội dung Trang Chương I: Các khái niệm cơ bản về dung sai lấp ghếp 4 Chương II: Hệ thông dung sai lắp ghép bê mặt trơn 18 Chương HT: Dung sai hình đạng, vị trí và nhám bê mặt 29 Chương IV: Dung sai kích thước và lắp ghép của các môi ghép thông dụng » Chương V: Chuỗi Kích thước T2 Chương VI: Dụng cụ do thông dụng T8 4 CHUONG 1 CAC KHAI NIEM VE DUNG SAI LAP GHÉP.1 Kích thước, sai lệch giới hạn, dung sai lắp ghép 1.1 Khái niệm về tính trong nganh cơ khí chế tạo. Ban chất của tính lắp In Máy do nhiều bộ phận hợp thành, mỗi bộ phận do nhiều khâu, khớp, chỉ tiết lắp ghép lại với nhau, trong chế tạo cũng như sửa chữa máy, con người mong muốn các chỉ tiết máy cùng loại có khả năng lắp đôi lẫn được cho. nhau - nghĩa là khi cần thay thế nhau, không cần lựa chọn và sửa chữa gì thêm. mà vẫn đảm bảo được yêu cầu kỹ thuật của mối lắp ghép. Tính chất đó của chỉ tiết gọi là tính lắp lẫn (đồi lẫn chức năng ). Tỉnh lắp lẫn của một loại chỉ tiết máy là khả năng thay thế cho nhau trong lắp ghép mà không cần lựa chọn và sửa chữa gỉ thêm vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm đã quy định. Tính l có 2 loại đó là lắp lẫn hoàn toàn và lắp lẫn không hoàn toàn. Nếu trong một loạt chỉ tiết cùng loại, mà các chỉ tiết đi được cho nhau thì loạt chỉ tiết đó đạt được tính lắp lẫn hoàn toải trong các chỉ t ắp lãi ắ cần phải gia công thêm mới lắp ghép được thì loạt chỉ tiết đó chỉ đạt được tính lắp lẫn không hoàn toàn. Các chỉ tiết có tính lắp lẫn phải giống nhau về hình dang vé kích thước, hoặc kích thước chỉ được khác nhau trong một phạm vi cho phép nào đó, phạm vi cho phép đó gọi là dung sai. Như vậy dung sai là yếu tố quyết định tính lắp lẫn, tuỳ theo giá trị của dung sai mả chỉ tiết đạt được tính lắp lẫn hoàn toàn hay lắp lẫn không hoàn toàn. Lắp lẫn hoàn toàn đòi hỏi chỉ tiết phải có độ chính xác cao, do đó giá thành sản phẩm cao. Đối với các chỉ tiết tiêu chuẩn như bu lông - đai Ốc, bánh cá chỉ tiết dự trữ, thay thế thường được chế tạo cỏ tính lắp lẫn Ìn không hoàn toàn cho phép các chỉ tiết chế tạo với phạm vỉ dung sai lớn hơn, thường thực hiện đối với công việc lắp ráp trong nội bộ phân xưởng hoặc nhà máy. Vai trò của tính lắp In trong chế tạo máy là điều kiện cơ bản và cần thiết của nền sản xuất tiên tiến. Trong sản xuất hàng loạt, nếu không đảm bảo các nguyên tắc của tính lấp lẫn thì không thể sử dụng bình thường nhiều loại đồ dùng phương tiện trong cuộc sống của chúng ta. Ví dụ : Lắp một bóng đèn điện vao dui dén; van dai ốc vào một bulông bắt kỳ có cùng kích cỡ kích thước, lắp ô lăn có cùng số hiệu về kích thước vào truc va 6 trục nào đó v. “Trong sản xuất, nhờ tính lắp lẫn của chỉ tiết quá trình lắp ráp được đơn giản thuận tiện. Trong sửa chữa, nếu thay thế một chỉ tiết bị hỏng bằng một chỉ tiết dự trữ cùng loại. Ví dụ: xéc măng, piston .thì máy có thê làm việc được ngay, giảm thời gian ngừng máy để sửa chữa, tận dụng được thời gian Sản xuất của nó. 'Về mặt công nghệ, nếu có các chỉ tiết được thi ;à chế tạo đảm bảo. tính lắp lẫn sẽ tạo điều kiện cho việc hợp tác sản xuất giữa các xí nghiệp, thực hiện chuyên môn hoá dễ dàng, tạo điều kiện đề áp dụng kỹ thuật tiên tiến, tô chức sản xuất hợp lý, nâng cao năng xuất và chất lượng, hạ giá thành sản phẩm.2 Kích thước, sai lệch giới hạn, dung sai lắp ghép a. Kích thước Kích thước là giá trị bằng số của đại lượng đo chiều dài (đường kính, chiều dải.) theo đơn vị đo được lựa chọn. Trong công nghệ cỈ đơn vị đo thường dùng là milimét (mm) hoặc vạch và qui ước thống nhất trên các bản vẽ kỹ thuật không cần ghỉ chữ “mm”. Ví dụ chỉ tiết máy có đường. kính 19,95 mm, chiều dài 125,5 mm thì trên bản vẽ chỉ ghỉ 19,95 và 125,5. Kích thước danh nghĩa. Kích thước danh nghĩa là kích thước được xác định dựa vào chức năng của chỉ tiết, sau đó chọn cho đúng với trị s của kích thước có trong, bản tiêu chuẩn. Ví dụ khi tính toán người thiết kế xác định được kích thước của chỉ tiết là 35,785 mm; đối chiếu với bản tiêu chuẩn chọn kích thước là 36 mm. Kích thước 36 mm này là kích thước danh nghĩa của chỉ tiết. Kích thước danh nghĩa được dùng để xác định các kích thước giới hạn và tính sai lệch. Kích thước danh nghĩa của chỉ tiết lỗ ký hiệu là D; của chỉ tiết trục ký hiệu là d (hình 1.1) a) True b) Lễ Hinh u ích thước của trục v lỗ Bảng 1.1: Các ích thước tiêu chuẩn ước cho trong hoảng từ n 500mm (TCVN 192 - 66. Kích thước ưu tiên) KT | 22| 50 11,0} 2560| 550 | 1250| 28040 105 | 24| 52 115| 2660| 600 | 1300| 300 110 | 25| 55 120| 2860| 630 | 1400| 3204 115 | 2. Kích thước thực Kích thước thực là kích thước đo được trực tiếp trên chỉ tiết bằng những dụng cụ đo và phương pháp đo chính xác nhất mà kỹ thuật đo có thé đạt được. “Trong thực tế không phải lúc nào cũng xác định được kích thước một cách chính xác, như vậy nên còn cho phép quan niệm kích thước thực là kích thước được xác định bằng cách đo với sai số cho phép. Dt: Kích thước thực của chỉ tiết lỗ dt: Kích thước thực của chỉ tiết trục. Khi gia công, không thể đạt được kích thước thực hoàn toàn đúng như kích thước danh nghĩa, sự sai lệch giữa kích thước thực và kích thước danh nghĩa phụ thuộc nhiều yếu tố : độ chính xác của máy, dao gia công, dụng cụ gá lắp, dụng cụ đo kiểm, trình độ tay nghề của người thợ v. Miễn sai lệch cho phép của kích thước thực so với kích thước danh nghĩa phụ thuộc vào mức độ chính xác yêu cầu và tính chất lắp phép của các chỉ tiết. Kích thước giới hạn Khi gia công bắt kỳ một một kích thước của chỉ tiết nào đó, ta cần phải quy định một phạm vi cho phép của sai số chế tạo kích thước đó. Phạm vi cho phép ấy được giới hạn bởi hai kích thước quy định gọi là giới hạn. Dmạy, dạy : Kích thước giới hạn lớn nhất của lỗ, trục Dmïn, dạng : Kích thước giới hạn nhỏ nhất của lỗ, trục Kích thước giới hạn là hai ất và nhỏ nhất mà kích thước thực của các chỉ tiết đạt yêu cầu nằm trong phạm vi đó. Phạm vi cho phép phải quy định sao cho các chỉ tiết đạt được được tính lắp lẫn về phương diện kích thước._ Như vậy chỉ tiết đạt yêu sử dụng thì kích thước thực của nó thoả mãn điều kiện sau: Dmạy >DL 3 Dmịn dmax 3 đL 3 dmịn ©. Sai lệch giới hạn Sai lệch giới hạn là sai lệch của các kích thước giới hạn so với kích thước danh nghĩa, là hiệu số giữa các kích thước giới hạn và kích thước danh nghĩa. Có 2 loại sai lệch giới hạn đó là sai lệch giới hạn trên và sai lệch giới hạn dưới. Sai lệch giới hạn trên là hiệu đại số giữa kích thước giới hạn lớn nhất và kích thước danh nghĩa. Sai lệch giới hạn trên của lỗ ký hiệu là ES, của trục ký hiệu là es (Hình 1.b) WZ el Me § a L LH : [ Ñ Ñ a b € a h giới hạn của chỉ tỉ t lỗ (a, b) v chỉ tỉ t trục (e, đ) 8 Sai lệch giới hạn dưới là hiệu đại số giữa kích thước giới hạn nhỏ nhất và kích thước danh nghĩa. Sai lệch giới dưới trên của lỗ ký hiệu là El, của trục ký hiệu là ei (Hình 1.4) Chú ý: 1- Tuỳ theo tính chất của mỗi ghép yêu cầu mà kích thước hạn có. những giá trị khác nhau. Sai lệch giới hạn có giá trị dương (> 0) (Hình 1.2b,c) khi kích thước giới hạn lớn hơn kích thước danh nghĩa. Sai lệch giới hạn bằng không khi kích thước giới hạn bằng kich thước danh nghĩa. 2- Ngoài sai lệch giới hạn TCVN 2244 ~ 77 còn qui định sai lệch thực và sai lệch cơ bản. Sai lệch thực là hiệu đại số giữa kích thước thực và kích thước danh nghĩa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ