chương 1 Chương này trình bày tóm tắt về Lịch sử tác động của con người đến môi trường; Sự ra đời của công cụ đánh giá môi trường; Định nghĩa, mục đích và ý nghĩa của đánh giá môi trường; Mối quan hệ giữa đánh giá môi trường và các công cụ quản lí môi trường khác. Trong đó, mối liện hệ giữa công cụ đánh giá môi trường với các công cụ khác như Công cụ chính sách, chiến lược; Công cụ pháp chế; Công cụ kế hoạch hóa; Công cụ Kinh tế; Kế toán môi trường; Khoa học và công nghệ; Công cụ thông tin, dữ liệu; Giáo dục, đào tạo và truyền thông môi trường; được trình bày một cách chi tiết để thấy rõ việc thực hiện đánh giá môi trường là công cụ quan trọng trong quản lí tài nguyên và môi trường. Lịch sử tác động của con người đến môi trường Trong lịch sử phát triển, có hai sự kiện góp phần to lớn vào việc thay đổi bộ mặt Trái đất (TĐ), đó là sự xuất hiện sự sống và sau đó là loài người [5]. Rõ ràng, vào thời điểm cách đây rất lâu, khi điều kiện nhiệt độ, ánh sáng, môi trường thích hợp, các tế bào sống đã xuất hiện trên TĐ.
Sau đó, từ đơn bào đến đa bào rồi dần dần hình thành các loài thực vật, động vật bậc cao tạo nên các hệ sinh thái đa dạng như hiện nay. Có thể thấy gần như mọi nơi trên bề mặt TĐ đều có sinh vật sống, cho dù đó là nơi lạnh lẽo nhất ở hai cực, nơi đáy biển tối tăm hay ở sa mạc nóng bỏng. Thế giới sinh vật hình thành trên một quyển rộng lớn, đó là Sinh quyển. Sinh quyển tạo nên bộ mặt mới cho TĐ, các chu trình vật chất được hình thành, chuỗi thức ăn khá phức tạp nhưng ở trạng thái cân bằng động.
Để đạt được trạng thái này, các hệ sinh thái có những quy luật chế ngự nhất định, quy luật này được hình thành từ hàng triệu năm. Mỗi loài sinh vật, sau một thời gian dài tiến hoá, thích nghi với điều kiện sống đã có những tập tính, những bản năng sống riêng của mình. Trong mối quan hệ phụ thuộc nhau trong hệ sinh thái, hình thành những quy luật bảo đảm sự tồn tại của mỗi loài. Có thể lấy quan hệ giữa loài ăn thịt và con mồi làm ví dụ, để có thể song song tồn tại, con thú có bản năng đặc biệt đó là chỉ bắt mồi vào những lúc đói, khi cần thức ăn.
Vì vậy, nhiều khi hổ, báo rất hiền, các loài hươu, nai vẫn có thể nhởn nhơ xung quanh vì chúng biết rằng hổ, báo vừa có bữa ăn thịnh soạn. Khi đó, con mồi là đối tượng săn bắt để nuôi con thú, chứ không phải là đối tượng mà con thú muốn tiêu diệt. Một đặc điểm nữa là việc bắt mồi không phải là dễ dàng, bởi vì con mồi đã có những bản năng tự vệ rất có hiệu quả. Vì vậy, khi bắt được mồi, hầu hết các con thú phải ăn hết những thứ có thể ăn được.
Mặt khác, con thú hoàn toàn không có khả năng tự “chế biến” và “để dành” thức ăn nên chỉ khi đói nó mới tiến hành săn mồi. Điều gì sẽ xảy ra nếu con thú săn mồi một cách quá dễ dàng và có khả năng chế biến thức ăn. Khi đó, có thể xuất hiện một vài con thú ăn thịt ích kỷ nào đó, nó bắt mồi nhưng chỉ ăn phần ngon, rồi 1 bắt con mồi khác, ăn không hết thì tha về tổ của mình. Với cách thức này, con mồi sẽ nhanh chóng bị tiêu diệt và đến lượt mình, khi hết mồi thì con thú cũng bị tiêu diệt.
Như vậy, trong thế giới sinh vật, do bản năng sống, do những quy luật tự nhiên chế ngự nên đã hình thành được trạng thái tương đối cân bằng. Từ khi con người xuất hiện, bộ mặt TĐ một lần nữa bị thay đổi. Sự thay đổi này do con người gây nên trong suốt thời gian tồn tại của mình với tốc độ ngày càng gia tăng. Nguyên nhân, động lực nào giúp con người tác động làm thay đổi bộ mặt TĐ một cách nhanh chóng đến vậy? Câu trả lời đang được con người tìm hiểu và làm sáng tỏ dần.
Song có thể thấy rõ ràng là bằng bàn tay lao động và ý thức tư duy từ bộ óc thông minh của con người (điều không có ở động vật bậc cao), đời sống về vật chất và tinh thần của con người tăng lên nhanh chóng. Điều đó đồng nghĩa với khai thác tự nhiên ở cường độ ngày càng lớn làm biến đổi diện mạo của TĐ. Hoạt động của con người đã gây nên nhiều tác động bất lợi đối với tự nhiên, khai thác quá mức, tàn phá tự nhiên trên phạm vi rộng lớn. Suy thoái tài nguyên và suy giảm chất lượng MT đang là những vấn đề thời sự đặt ra cho nhân loại trong thời đại hiện nay, buộc chúng ta phải nghiên cứu kĩ hơn những tác động của con người đến MT, qua đó tìm những biện pháp nhằm hạn chế những tác động có hại.
Trong suốt lịch sử phát triển, loài người đã trải qua những giai đoạn phát triển với nhiều tác động đặc thù đến MT. Thời kì nguyên thủy Thời kì nguyên thủy, con người sống hoà nhập với tự nhiên, phụ thuộc vào sản phẩm vốn có của tự nhiên. Cách kiếm sống cơ bản là săn bắt và hái lượm. Nhiều tập tính của con người giống với một số loài động vật.
Chẳng hạn, con người chỉ săn bắt động vật, hái lượm hoa quả, thực vật vì sự tồn tại của mình một cách tự nhiên, nghiêng về bản năng, không có ý đe dọa sự tồn tại của một số loài khác. Ở giai đoạn đầu, dân số còn rất ít, phương tiện săn bắt, hái lượm thô sơ nên con người dễ hòa đồng vào MT tự nhiên. Tuy nhiên, do cuộc sống đòi hỏi lao động và phát triển tư duy nên con người đã tìm cách chế tạo ra những công cụ săn bắt, hái lượm có hiệu quả hơn để tìm được nhiều thức ăn hơn và hạn chế được tác động có hại của tự nhiên. Vì vậy, tuổi thọ được nâng cao, dân số tăng dẫn đến tác động MT tự nhiên cũng gia tăng về cường độ, phạm vi.
Đặc biệt, vào thời kì đồ đá cũ, con người đã biết chế tạo và sử dụng lửa để sưởi ấm, để nướng chín thức ăn nhưng đồng thời cũng vô tình tạo nên nhiều đám cháy rừng quy mô lớn. Như vậy, rõ ràng ở thời kì này con người đã bắt đầu tác động đến MT nhưng ở mức độ thấp do đó các chức năng của MT nhanh chóng được phục hồi. Xã hội nông nghiệp và các phương thức làm nông nghiệp Việc chuyển từ phương thức kiếm sống bằng săn bắt và hái lượm sang phương thức làm nông nghiệp đánh dấu bước tiến vượt bậc trong quá trình phát triển của loài người. Việc trồng cây lương thực, cây ăn quả, cây lấy sợi.
và chăn nuôi gia súc, gia cầm để lấy sữa, lấy thịt, lấy lông, lấy sức kéo. đã giúp con người chủ động tìm kiếm và cất giữ thức ăn. Tuy nhiên, cho đến đầu thế kỷ XXI, con người vẫn chưa sản xuất đủ 2 lương thực phục vụ nhu cầu cho dân số ngày một tăng. Vì vậy, sản xuất lương thực vẫn đang được chú trọng ở mức độ cao trên phạm vi toàn thế giới.
Sản xuất nông nghiệp với hai nghề chính là trồng trọt và chăn nuôi có tác động rất lớn đến tài nguyên và MT. Để có đất canh tác, con người phải đốt phá những cánh rừng rộng lớn, nơi sinh sống, trú ngụ của rất nhiều loài động thực vật. Để có mùa màng bội thu, con người phải cày xới, thiết lập hệ thống tưới tiêu làm thay đổi cả tầng đất mặt và cả chế độ nước tầng mặt. Những thay đổi này ngày một mạnh mẽ và hậu quả của nó lớn đến nỗi nhiều vùng bị sa mạc hóa, khô cằn không có khả năng phục hồi được.
Giai đoạn đầu của nền văn minh nông nghiệp, phương thức canh tác chính của con người là chọc tỉa và du canh du cư. Để có đất trồng trọt, họ tìm vùng rừng thích hợp, đưa cả bộ tộc đến ở, sau đó chặt cây, đốt rừng, dùng gậy hoặc đồ dùng thô sơ chọc lỗ, tra hạt và chờ đợi ngày thu hoạch. Với phương thức canh tác như vậy, vùng đất trồng bị suy giảm độ màu mỡ rất nhanh, chủ yếu là do xói mòn đất. Kết quả là sau một thời gian không dài họ lại phải khai phá một khoảng rừng mới và đến khi toàn bộ vùng rừng đã bị khai thác hết họ lại phải kéo cả bộ tộc đến nơi ở mới.
Hiện nay, phương thức này vẫn được một số bộ tộc ít người sử dụng. Với phương thức sản xuất nông nghiệp, con người đã có nhiều lương thực, thực phẩm hơn, chủ động hơn về nguồn thực phẩm, chủ động hơn về nguồn sống. Vì vậy, dân số tăng nhanh hơn đòi hỏi mức độ khai thác tài nguyên đất, rừng tăng lên, đồng nghĩa với việc tài nguyên đất bị suy thoái trên phạm vi ngày một rộng lớn. Cách mạng kĩ thuật và xã hội công nghiệp Cùng với sự phát triển của nông nghiệp, con người đã từng bước giải quyết được vấn đề thức ăn, quần áo, nhà ở.
Con người đã chủ động hơn trong việc chống chọi lại thiên tai. Đặc biệt, ở những vùng có khí hậu khắc nghiệt, khô hạn, lũ lụt hay giá rét, con người phải chịu nhiều tổn thất. Tuy nhiên, bằng bàn tay lao động và tư duy sáng tạo, con người đã tự nghiên cứu, chế tạo được những công cụ ngày một tinh vi và hiện đại, nâng cao năng suất lao động, sản xuất được nhiều hàng hoá mới, đa dạng hơn. Và chính ở những nơi khó khăn nhất, con người đã phát minh, sáng chế ra những công cụ, những máy móc, những thiết bị kỳ diệu.
Một trong những phát minh quan trọng đó là đầu máy hơi nước, tiếp đó là tàu hỏa, tàu thủy chạy bằng hơi nước giúp cư dân ở các nước châu Âu tiến xa ra biển và đến được những vùng đất mới, mở rộng khả năng khai thác tài nguyên. Cuối thế kỷ XVIII đầu thể kỷ XIX nhiều phát minh khác cho phép con người có nhiều ước mơ hơn. Nếu trước đây, họ chỉ mong có cơm đủ ăn, áo đủ mặc, nhà ở đủ tránh gió rét, nóng bức thì nay họ cần cơm ngon, thức ăn ngon, áo đẹp, nơi ở đàng hoàng hơn. Để thỏa mãn nhu cầu và ước mơ này, một loạt các ngành công nghiệp tiếp nối nhau ra đời, sản xuất ra của cải ngày một dồi dào.