Mở đầu 1) Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu của khoa học vệ sinh lao động Khoa học vệ sinh lao động nghiên cứu tác dụng sinh học của các yếu tố bất lợi ảnh hưởng đến sức khoẻ và tổ chức cơ thể con người, cũng như các biện pháp đề phòng, làm giảm và loại trừ tác hại của chúng. Tất cả các yếu tố gây tác dụng có hại lên con người riêng lẽ hay kết hợp trong điều kiện sản xuất gọi là tác hại nghề nghiệp. Kết quả tác dụng của chúng lên cơ thể con người có thể gây ra các bệnh tật được gọi là bệnh nghề nghiệp. Đối tượng của vệ sinh lao động là nghiên cứu: − Quá trình lao động và sản xuất có ảnh hưởng đến sức khoẻ con người.
Trang 10 − Nguyên liệu, vật liệu, bán thành phẩm và vật thải ra có ảnh hưởng đến sức khoẻ con người. − Quá trình sinh lý của con người trong thời gian lao động. − Hoàn cảnh, môi trường lao động của con người. − Tình hình sản xuất không hợp lý ảnh hưởng đến sức khoẻ con người.
Mục đích nghiên cứu là để tiêu diệt những nguyên nhân có ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ và khả năng lao động của con người. Nhiệm vụ chính của vệ sinh lao động là dùng biện pháp cải tiến lao động, quá trình thao tác, sáng tạo điều kiện sản xuất hoàn thiện để nâng cao trạng thái sức khoẻ và khả năng lao động cho người lao động. Những nhân tố ảnh hưởng và biện pháp phòng ngừa Tất cả những nhân tố ảnh hưởng có thể chia làm 3 loại: − Nhân tố vật lý học: như nhiệt độ cao thấp bất thường của lò cao, ngọn lửa của hàn hồ quang, áp lực khí trời bất thường, tiếng động, chấn động của máy,. − Nhân tố hoá học: như khí độc, vật thể có chất độ, bụi trong sản xuất,.
− Nhân tố sinh vật: ảnh hưởng của sinh vật, vi trùng mà sinh ra bệnh truyền nhiễm. b - Các biện pháp phòng ngừa chung: Các bệnh nghề nghiệp và nhiễm độc trong xây dựng cơ bản có thể đề phòng bằng cách thực hiện tổng hợp các biện pháp kỹ thuật và tổ chức nhằm: − Cải thiện chung tình trạng chỗ làm việc và vùng làm việc. − Cải thiện môi trường không khí. − Thực hiện chế độ vệ sinh sản xuất và biện pháp vệ sinh an toàn cá nhân.
Tổng hợp các biện pháp trên bao gồm các vấn đề sau: − Lựa chọn đúng đắn và đảm bảo các yếu tố vi khí hậu, tiện nghi khi thiết kế các nhà xưởng sản xuất. − Loại trừ tác dụng có hại của chất độc và nhiệt độ cao lên người làm việc. − Làm giảm và triệt tiêu tiếng ồn, rung động. − Có chế độ lao động riêng đối với một số công việc nặng nhọc tiến hành trong các điều kiện vật lý không bình thường, trong môi trường độc hại,.
− Tổ chức chiếu sáng tự nhiên và nhân tạo ở chỗ làm việc hợp lý theo tiêu chuẩn yêu cầu. − Đề phòng bệnh phóng xạ có liên quan đến việc sử dụng các chất phóng xạ và đồng vị. − Sử dụng các dụng cụ phòng hộ cá nhân để bảo vệ cơ quan thị giác, hô hấp, bề mặt da,. Ảnh hưởng của tình trạng mệt mỏi và tư thế lao động 1) Mệt mỏi trong lao động a - Khái niệm mệt mỏi trong lao động: Mệt mỏi là trạng thái tạm thời của cơ thể xảy ra sau 1 thời gian lao động nhất định.
Mệt mỏi trong lao đông thể hiện ở chỗ: − Năng suất lao động giảm. − Số lượng phế phẩm tăng lên. − Dễ bị xảy ra tai nạn lao động. Khi mệt mỏi, người lao động cảm giác khó chịu, buồn chán công việc.
Nếu được nghỉ ngơi, các biểu hiện trên mất dần, khả năng lao động được phục hồi. Nếu mệt mỏi kéo dài sẽ dẫn đến tình trạng quá mệt mỏi thì không còn là hiện tượng sinh lý bình thường mà đã chuyển sang tình trạng bệnh lý do sự tích chứa mệt mỏi làm rối loạn các chức năng thần kinh và ảnh hưởng đến toàn bộ cơ thể. b - Nguyên nhân gây ra mệt mỏi trong lao động − Lao động thủ công nặng nhọc và kéo dài, giữa ca làm việc không có thời gian nghỉ ngơi hợp lý. − Những công việc có tính chất đơn điệu, đều đều gây buồn chán.
− Thời gian làm việc quá dài. − Nơi làm việc có nhiều yếu tố độc hại như tiếng ồn, rung chuyển quá lớn, nhiệt độ ánh sáng không hợp lý, … − Làm việc ở tư thế gò bó: đứng ngồi bắt buộc, đi lại nhiều lần, … − Ăn uống không đảm bảo khẩu phần về năng lượng cũng như về sinh tố, các chất dinh dưỡng cần thiết,. − Những người mới tập lao động hoặc nghề nghiệp chưa thành thạo,. − Bố trí công việc quá khả năng hoặc sức khoẻ mà phải làm những việc cần gắng sức nhiều,.
− Do căng thẳng quá mức của cơ quan phân tích như thị giác, thính giác. − Tổ chức lao động thiếu khoa học. − Những nguyên nhân về gia đình , xã hội ảnh hưởng đến tình cảm tư tưởng của người lao động. c - Biện pháp đề phòng mệt mỏi trong lao động: − Cơ giới hoá và tự động hoá trong quá trình sản xuất không những là biện pháp quan trọng để tăng năng suất lao động, mà còn là những biện pháp cơ bản đề phòng mỏi mệt.
− Tổ chức lao động khoa học, tổ chức dây chuyền lao động và ca kíp làm việc hợp lý để tạo ra những điều kiện tối ưu giữa con người và máy, giữa con người và môi trường lao động,. Trang 12 − Cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động nhằm loại trừ các yếu tố có hại. − Bố trí giờ giấc lao động và nghỉ ngơi hợp lý, không kéo dài thời gian lao động nặng nhọc quá mức quy định, không bố trí làm việc thêm giờ quá nhiều. Coi trọng khẩu phần ăn của người lao động, đặc biệt là những nghề nghiệp lao động thể lực.
Rèn luyện thể dục thể thao, tăng cường nghỉ ngơi tích cực. Xây dựng tinh thần yêu lao động, yêu ngành nghề, lao động tự giác, tăng cường các biện pháp động viên tình cảm, tâm lý nhằm loại những nhân tố tiêu cực dẫn đến mệt mỏi về tâm lý, tư tưởng. Tổ chức tốt các khâu về gia đình, xã hội nhằm tạo ra cuộc sống vui tươi lành mạnh để tái tạo sức lao động, đồng thời ngăn ngừa mệt mỏi. 2) Tư thế lao động bắt buộc Do yêu cầu sản xuất, mỗi loại nghề nghiệp đều có một tư thế riêng.
Người ta chia tư thế làm việc thành 2 loại: Tư thế lao động thoải mái là tư thế có thể thay đổi được trong quá trình lao động nhưng không ảnh hưởng đễn sản xuất. Tư thế lao động bắt buộc là tư thế mà người lao động không thay đổi được trong quá trình lao động. a - Tác hại lao động tư thế bắt buộc: Tư thế lao động đứng bắt buộc: − Có thể làm vẹo cột sống, làm dãn tĩnh mạch ở kheo chân. Chân bẹt là một bệnh nghề nghiệp rất phổ biến do tư thế đứng bắt buộc gây ra.
− Bị căng thẳng do đứng quá lâu, khớp đầu gối bị biến dạng có thể bị bệnh khuỳnh chân dạng chữ O hoặc chữ X. − Ảnh hưởng đến bộ phận sinh dục nữ, gây ra sự tăng áp lực ở trong khung chậu làm cho tử cung bị đè ép, nếu lâu ngày có thể dẫn đến vô sinh hoặc gây ra chứng rối loạn kinh nguyệt. Tư thế lao động ngồi bắt buộc: − Nếu ngồi lâu ở tư thế bắt buộc sẽ dẫn đến biến dạng cột sống. − Làm tăng áp lực trong khung chậu và cũng gây ra các biến đổi vị trí của tử cung và rối loạn kinh nguyệt.
− Tư thế ngồi bắt buộc còn gây ra táo bón, hạ trĩ. So với tư thế đứng thì ít tác hại hơn. b - Biện pháp đề phòng: − Cơ giới hoá và tự động hoá quá trình sản xuất là biện pháp tích cực nhất. − Cải tiến thiết bị và công cụ lao động để tạo điều kiện làm việc thuận lợi Trang 13 cho người lao động.
− Rèn luyện thân thể để tăng cường khả năng lao động và khắc phục mọi ảnh hưởng xấu do nghề nghiệp gây ra, còn có tác dụng chỉnh hình trong các trưưòng hợp bị gù vẹo cột sống và lấy lại sự thăng bằng do sự đè ép căng thẳng quá mức ở bụng. − Tổ chức lao động hợp lý: bố trí ca kíp hợp lý, nghỉ ngơi thích hợp để tránh tư thế ngồi và đứng bắt buộc quá lâu ở một số ngành nghề. Ảnh hưởng của điều kiện khí hậu đối với cơ thể Điều kiện khí hậu của hoàn cảnh sản xuất là tình trạng vật lý của không khí bao gồm các yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm tương đối, tốc độ lưu chuyển không khí và bức xạ nhiệt trong phạm vi môi trường sản xuất của người lao động. Những yếu tố này tác động trực tiếp đến cơ thể con người, gây ảnh hưởng đến sức khoẻ và ảnh hưởng đến khả năng lao động của công nhân.
1) Nhiệt độ không khí a - Nhiệt độ cao: Nước ta ở vùng nhiệt đới nên mùa hè nhiệt độ có khi lên đến 40 0C. Lao động ở nhiệt độ cao đòi hỏi sự cố gắng cao của cơ thể, sự tuần hoàn máu mạnh hơn, tần suất hô hấp tăng, sự thiếu hụt ôxy tăng, dẫn đến cơ thể phải làm việc nhiều để giữ cân bằng nhiệt. Khi làm việc ở nhiệt độ cao, người lao động bị mất nhiều mồ hôi. Trong lao động nặng cơ thể phải mất 6 - 7 lít mồ hôi nên sau 1 ngày làm việc cơ thể có thể bị sút 2 - 4 kg.
Mồ hôi mất nhiều sẽ làm mất 1 số lượng muối của cơ thể. Cơ thể con người chiếm 75% là nước, nên việc mất nước không được bù đắp kịp thời sẽ dẫn đến những rối loạn các chức năng sinh lý của cơ thể do rối loạn chuyển hoá muối và nước gây ra. Khi cơ thể mất nước và muối quá nhiều sẽ dẫn đến các hậu quả sau đây: − Làm việc ở nhiệt độ cao, nếu không điều hoà thân nhiệt bị trở ngại sẽ làm thân nhiệt tăng lên. Khi thân nhiệt tăng 0,30 - 10C, trong người đã cảm thấy khó chịu, gây đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, gây trở ngại nhiều cho sản xuất và công tác.
Nếu không có biện pháp khắc phục dẫn đến hiện tượng say nóng, say nắng, kinh giật, mất trí. − Khi cơ thể mất nước, máu sẽ bị quánh lại, tim làm việc nhiều nên dễ bị suy tim.