CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỂ TÀI 1. Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Tiểu học Tâm lí học lứa tuổi tiểu học là một ngành Tâm lí học nghiên cứu những đặc điểm tâm lí, các quy luật, các điều kiện, động lực phát triển tâm lí ở lứa tuổi tiểu học, những biến đổi của các quá trình tâm lí, các phẩm chất tâm lí trong sự hình thành, phát triển nhân cách trẻ em tuổi tiểu học. [1] Tâm lí học lứa tuổi tiểu học chỉ ra các đặc điểm tâm lí của con người được hình thành và phát triển trong từng giai đoạn lứa tuổi và trong suốt cuộc đời, những quy luật hình thành và biểu hiện tâm lí trẻ em ở giai đoạn phát triển tâm lí tiểu học, chỉ ra các điều kiện, động lực của sựu phát triển tâm lí ở nứa tuổi này. [2] Tâm lí học lứa tuổi tiểu học cung cấp cơ sở tâm lí lứa tuổi cho việc xây dựng các nguyên tắc, phương pháp, biện pháp dạy học và giáo dục phù hợp đặc điểm và quy luật tâm lí lứa tuổi tiểu học, tổ chức hợp lí quá trình sư phạm nhằm mục đích nâng cao hiệu quả của hoạt động dạy học và giáo dục ở Tiểu học.
Tâm lí học lứa tuổi tiểu học không những cung cấp cơ sở tâm lí cho giáo viên tiểu học trong hoạt động sư phạm của mình mà còn giúp giáo viên tiều học, các nhà giáo dục ở bậc học này có phương pháp đối xử khéo léo sư phạm với giáo viên, học sinh và tự rèn luyện, tự hoàn thiện bản thân để làm tốt vai trò người giáo viên trong sự nghiệp trồng người. Các em học ở trường tiểu học, hay còn gọi là tuổi Nhi đồng, lứa tuổi đầu tuổi học. Đến trường thực hiện hoạt động học tập là bước ngoặt quan trọng trong đời sống của trẻ ở lứa tuổi này. Giờ đây các em đã trở thành một học sinh thực sự, học tập là nhiệm vụ quan trọng nhất giúp các em tích lũy kiến thức.
Khi đến trường, các em bước vào những mối quan hệ mới và phức tạp hơn : quan hệ với thầy cô giáo, với bạn bè. Trong môi trường hoạt động mới sẽ tạo ra cho các em một thế giới nội tâm phong phú. Hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo của học sinh nhỏ. Thời kì này ở trẻ phát triển mạnh về nhận thức, tình cảm - ý chí – ý thức – nhân cách.
Dạy và học môn Mĩ thuật Trong Chương trình giáo dục phổ thông, môn học Mĩ thuật thuộc lĩnh vực giáo dục nghệ thuật và được dạy học xuyên suốt ở cả ba cấp học. Đối với chương trình cấp tiểu học, so với chương trình hiện hành (2006), tên môn học và thời lượng thực hiện chương trình không có gì thay đổi, nhưng nội dung giáo dục không quy định chi tiết theo bài/ chủ đề và số tiết cụ thể ở mỗi bài/ chủ đề, mà được tiếp cận theo hướng mở, lấy các yêu cầu cần đạt về năng lực mĩ thuật – biểu hiện của năng lực thẩm mĩ trong lĩnh vực mĩ thuật làm cơ sở để lựa chọn nội dung giáo dục và đánh giá kết quả. Đồng thời, chương trình quan tâm đến mối quan hệ qua lại giữa các môn học, hoạt động giáo dục và gắn với đời sống thực tiễn, thể hiện ở định hướng các chủ đề như thiên nhiên, con người, gia đình, xã hội,. và đồ chơi, đồ dùng học tập, đồ gia dụng,.
[3] Mục tiêu môn học Mĩ thuật cấp tiểu học là sự cụ thể hoá mục tiêu chung của chương trình môn học, đó là: giúp học sinh hình thành, phát triển năng lực mĩ thuật dựa trên kiến thức và kĩ năng mĩ thuật; nhận thức được mối quan hệ giữa mĩ thuật với đời sống, xã hội và các loại hình nghệ thuật khác; có ý thức trân trọng di sản văn hoá, nghệ thuật và khả năng ứng dụng kiến thức, kĩ năng mĩ thuật vào đời sống; có hiểu biết tồng quát về ngành nghề liên quan đến nghệ thuật thị giác và khả năng định hướng đuợc nghề nghiệp cho bản thân; trải nghiệm và khám phá mĩ thuật thông qua nhiều hình thức hoạt động; góp phần hình thành, phát triền các phẩm chất yêu nưóc, nhân ái, chăm chi, trung thực, trách nhiệm; các năng lực tự chủ và tự hoc, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo. Từ những căn cứ cơ bản trên, Chương trình môn Mĩ thuật cấp tiểu học xác định mục tiêu chủ yếu sau: giúp học sinh bước đầu hình thành, phát triển năng lực mĩ thuật thông qua các hoạt động trải nghiệm; biết thể hiện cảm xúc, trí tưởng tượng về thế giới xung quanh, từ đó hình thành năng lực giao tiếp, hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo; bước đầu làm quen, tìm hiểu và cảm nhận vẻ đẹp của sản phẩm, tác phẩm nghệ thuật, hình thành năng lực tự chủ và tự học; góp phần hình thành các phẩm chất yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm. [3] Mĩ thuật là môn học có từ lâu đời gắn liền và xuyên suốt cuộc sống nhân loại ngay từ buổi đầu của chế độ công xã nguyên thuỷ đến nay và sẽ còn mãi mãi. Là 9 môn học mang lại vẻ đẹp cho cuộc sống con người.
Trải qua nhiều thời kỳ mĩ thuật cũng có nhiều thay đổi, sự mất đi và sự sinh sôi những quan điểm nghệ thuật, những trào lưu trường phái nghệ thuật, những thành tựu, những đỉnh cao chói lọi. Thường thức mĩ thuật giúp cho HS hiểu được phần nào hoặc là bao quát về lịch sử mĩ thuật, những trào lưu, trường phái, quan điểm của từng thời kỳ cũng như những thành tựu đó. Nội dung kiến thức mang tính tổng hợp nên giáo viên cần phải có kiến thức tổng hợp sâu, rộng, lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp. Căn cứ vào dung lượng và đặc điểm tâm sinh lí của học sinh tiểu học, nội dung và yêu cầu kiến thức của bài học trong phân môn Thường thức mĩ thuật được nâng cao dần ở các lớp.
Với lớp 1 và lớp 2 mức độ kiến thức chủ yếu là cho học sinh làm quen, tiếp xúc với các bức tranh và tiếp đó giúp cho học sinh biết cách mô tả, nhận xét về nội dung, đặc điểm của các bức tranh ở mức độ đơn giản. Lên lớp 3,4,5 ngoài việc làm quen, tiếp xúc với các bức tranh, việc mô tả và nhận xét tranh yêu cầu ở mức độ cao hơn, cục thể hơn và có trọng tâm, tập trung vào cách chọn hình tượng, cách sắp xếp mảng chính, mảng phụ, cách phối hợp màu. Bên cạnh đó học sinh còn phải thể hiện được những cảm nhận, những tình cảm cá nhân của mình trước các bức tranh, và bước đầu phân biệt được đâu là tranh đẹp, đâu là tranh chưa đẹp khi xem tranh. Đây cũng chính là các bậc thang đầu tiên để dẫn dắt học sinh bước vào thế giới cái đẹp với một thij hiếu thẩm mĩ đúng đắn, lành mạnh, đồng thời giúp các em có thể thưởng thức được cái đẹp trong cuộc sống và trong nghệ thuật, biết yêu quý và trân trọng cái đẹp.
Yêu cầu về kiến thức: Như đã nói, thưởng thức mĩ thuật có nội dung kiến thức mang tính chất tổng hợp của nhiều môn khoa học: - Khoa học lịch sử: Nhân loại đã trải qua 5 hình thái kinh tế xã hội (từ XH nguyên thuỷ đến nay là XHCN) đã sản sinh những tư tưởng chính trị, xã hội khác nhau. Con người của từng thời đại phụ thuộc vào ý thức hệ thống chính trị đương thời. Nên các nền văn minh, văn hoá cũng nằm trong ý thức hệ đó và phản ánh xã hội đó, tư tưởng chính trị đương thời của xã hội đó. 10 VD : ở Việt Nam, nơi mà nhà nước phong kiến Nguyễn chọn Trung Quốc như một mẫu hình, cũng như chịu ảnh hưởng không nhỏ nền văn hoá nghệ thuật của họ, lại không thể hiện được điều ấy.
Những bức tranh gương với những bài ngự chế thi đi kèm dưới thời vua Thiệu Trị, Tự Đức, được trang trí trong nội cung; những tác phẩm bích họa đến tận đầu thế kỷ XX ở cung An Định dưới thời vua Khải Định; tác phẩm điêu khắc tượng tròn quan văn, võ, voi ngựa. ở phần lớn lăng tẩm các vị vua triều Nguyễn, cũng chỉ dừng lại ở nghệ thuật đậm chất dân gian. Chúng tôi muốn nói đến việc thể hiện chúng từ các khái niệm cơ bản về giải phẫu tạo hình, tỉ lệ, độ viễn cận, tối sáng, bố cục. tất cả dường như thuần đặc chất giản phát, hồn nhiên đến ngô nghê.
Vì vậy GV cần hiểu sâu, rộng kiến thức áp dụng vào bài giảng chính xác, lấy ví dụ sinh động sẽ hấp dẫn, lôi cuốn học sinh. Văn học: Văn-Thơ mới thời đại, trào lưu cũng như các môn nghệ thuật nói chung đều ảnh hưởng lẫn nhau. Nhưng văn học có liên hệ ảnh hưởng sâu sắc đến nghệ thuật tạo hình. Văn thơ diễn tả thế giới bằng sức mạnh ngôn từ, ngữ nghĩa, mĩ thuật diễn tả thế giớ bằng hình khối thông qua đường nét, màu sắc.
mà qua các tác phẩm văn học dân gian, hiện đại có thể là đề tài cho những tác phẩm hội hoạ. Ngược lại vẻ đẹp trong tác phẩm mĩ thuật cũng có khi là đề tài cho những ngôn từ xúc tích. Ở trường Tiểu học hiện nay, môn Mĩ thuật không dạy theo phân môn nữa mà dạy tích hợp theo chủ đề nhưng cái cốt lõi của các kĩ năng như quan sát, nhận biết, vẽ hình, vẽ màu vẫn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ trợ cho nhau. Khi học mỗi chủ đề, các em đều phải vận dụng các các kĩ năng đó để thực hành.
Trong đó, vẽ trang trí mang tính gần gũi với các em hơn cả, vì trang trí đóng vai trò quan trọng trong đời sống con người. Chúng ta thấy, ngay từ thời xa xưa, khi con người biết sáng tạo ra công cụ sản xuất thì trên những công cụ ấy đã có dấu hiệu của trang trí như: các nét vẽ mang tính đối xứng, các hình vẽ (họa tiết) mang dáng dấp của các sự vật trong tự nhiên được cách điệu ( hoa lá, muông thú v.), dần dần, xã hội ngày càng phát triển, trang trí ngày càng chiếm lĩnh vị trí quan trọng. Ngày nay, bất cứ sản phẩm nào làm ra, người ta đều phải quan tâm đến yếu tố thẩm mĩ (tức là trang trí) đầu tiên. Như vậy, trang trí là tổng hợp của sự cân đối về hình, sự hài hòa 11 về màu, sự khéo léo của đôi bàn tay, óc quan sát, trí tưởng tượng và đặc biệt là tư duy sáng tạo.