Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIÁO DỤC BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 1. Một số vấn đề về văn hóa và bản sắc văn hóa 1. Dân tộc Thuật ngữ dân tộc được bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp cổ “ethos” dùng để chỉ những cộng đồng người hình thành và phát triển trong quá trình tự nhiên lịch sử. Mỗi cộng đồng tộc người được đặc trưng bởi những dấu hiệu như: cùng chung tiếng nói, lãnh thổ, lối sống văn hóa và ý thức tự giác dân tộc.Trong một số trường hợp, những dấu hiệu cùng chung lãnh thổ có thể đóng vai trò kém quan trọng hơn [10].
Một số nhà dân tộc học Việt Nam cho rằng, cộng đồng tộc người hay dân tộc phải được coi là đơn vị cơ bản để tiến hành xác minh thành phần các dân tộc. Tại nhiều hội thảo khoa học về dân tộc học hầu hết các ý kiến đều tán thành các chỉ tiêu xác định thành phần dân tộc là: tiếng nói, đặc điểm văn hóa và ý thức tự giác dân tộc. Về nguyên tắc phân loại cộng đồng các dân tộc, các nhà dân tộc học đều thống nhất rằng: các cộng đồng dân tộc khác nhau không phải theo một đặc trưng nào đó, mà theo tổng thể các đặc trưng, đó là [7]: - Cùng nói một ngôn ngữ hay nói cách khác mỗi dân tộc đều có tiếng nói riêng của mình. Ngôn ngữ không chỉ đơn thuần là một phương tiện để giao lưu mà còn là phương tiện để phát triển các hình thái quan trọng nhất đối với đời sống văn hóa tinh thần của họ.
Chỉ có ngôn ngữ mẹ đẻ được tiếp nhận từ thời thơ ấu mới có thể giúp họ biết được những sắc thái tinh vi nhất của đời sống tinh thần, cho phép họ hiểu biết thấu đáo. Ngôn ngữ liên quan mật thiết đến bản sắc tộc người, không phải ngẫu nhiên mà phần lớn các tên gọi dân tộc lại trùng lặp với ngôn ngữ của họ. - Một trong những dấu hiệu quan trọng để phân định các dân tộc là đặc điểm văn hóa. Văn hóa là cái mà mỗi dân tộc xây dựng nên trong quá trình phát triển lịch sử của mình được lưu truyền từ thế hệ trước sang thế hệ sau.
Vì thế mỗi dân tộc đều 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có đặc điểm văn hóa riêng; các yếu tố văn hóa đặc thù thường trở thành biểu tượng của bản sắc dân tộc. Khi nói đến đặc điểm văn hóa có nghĩa là nói đến những thành tựu văn hóa dân tộc đó đã đạt được, những tri thức mà họ đã tích lũy được, những đóng góp của họ vào kho tàng văn hóa nhân loại. - Ý thức dân tộc hay sự tự giác dân tộc, suy cho cùng là cái quyết định để xác định thành phần dân tộc. Nó được xuất hiện khi con người trong cùng một cộng đồng, sử dụng một tộc danh thống nhất và cũng là kết quả của sự tác động lẫn nhau của các yếu tố cơ bản hình thành nên cộng đồng dân tộc.
Điều quan trọng của ý thức dân tộc là tính độc lập cao hơn hẳn so với nguyên nhân hình thành nó. - Cùng cư trú trên phạm vi lãnh thổ nhất định. Lãnh thổ như một điều kiện vật chất, cơ bản để hình thành các cộng đồng dân tộc. Để giao tiếp được với nhau, con người thường phải sống gần nhau, thậm chí các nhóm người khác nhau về ngôn ngữ, về xuất xứ, nếu sinh sống trong cùng một vùng lãnh thổ, họ có thể tạo thành một cộng đồng thống nhất.
Văn hóa Văn hóa là một khái niệm đa nghĩa, đa tầng. Do đó, ở các góc độ chuyên môn riêng, ở mỗi mục đích nhận thức khác nhau có những quan niệm hay diễn giải/ định nghĩa khác nhau về văn hóa nhưng vẫn xoay quanh một số khuynh hướng nhất định. Hiện nay, có hai xu hướng định nghĩa về văn hóa. Thứ nhất là loại định nghĩa miêu tả liệt kê các thành tố của văn hóa; thứ hai là loại định nghĩa nêu đặc trưng của văn hóa.
Các khuynh hướng ấy có thể khác nhau nhưng đều thống nhất ở một điểm, văn hóa là sản phẩm thích ứng con người với tự nhiên[13] [32]. Định nghĩa văn hóa đầu tiên được nhà dân tộc học người Anh Edward Burnet Tylor đưa ra vào năm 1871 trong cuốn “Primitive culture” (văn hóa nguyên thủy): Văn hóa văn minh, được hiểu theo nghĩa rộng của dân tộc học, là một toàn bộ phức thể bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và mọi khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách một thành viên của xã hội. Đến nay, đã có hàng trăm định nghĩa văn hóa khác nhau ra đời tùy thuộc vào góc độ và cách tiếp cận của học giả. Theo hai nhà khoa học A.
Kluckholn trong cuốn “culture: A critical review of concepts and definitions, Havard University, 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cambridge,1952” (Văn hóa, một sự điểm duyệt các khái niệm và định nghĩa) đã có tới 164 định nghĩa về văn hóa. Điều này nói lên tính đa dạng của văn hóa và cách hiểu về văn hóa [13]. Theo định nghĩa chung nhất của UNESCO: “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng.
Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách có đạo lý. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn chỉnh đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân” [19]. Xuất phát từ quan niệm coi văn hóa gắn với các phương thức hoạt động và sinh hoạt của con người, Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích nghi với những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”[21]. Trên cơ sở phân tích các định nghĩa văn hóa, tác giả Trần Ngọc Thêm đã đưa ra định nghĩa về văn hóa: “Văn hóa là một hệ thống hữu có các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [30]. Văn hoá truyền thống Mỗi dân tộc dù ở trình độ văn minh cao hay thấp đều có những văn hóa truyền thống đặc trưng riêng của mình.
Hệ thống giá trị đó chính là sự kết tinh tất cả những gì tốt đẹp nhất, được chọn lọc qua nhiều thời đại lịch sử để tạo nên bản sắc riêng của một dân tộc. Giá trị văn hóa truyền thống đó được truyền lại cho thế hệ sau và trở thành một động lực nội sinh để phát triển đất nước. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo tác giả Trần Văn Giàu: Giá trị truyền thống được hiểu là những cái tốt, bởi vì những cái tốt mới được gọi là giá trị, mà phải là cái tốt cơ bản, phổ biến, có nhiều tác dụng tích cực cho đạo đức, cho sự hướng dẫn nhận định, đánh giá và dẫn dắt hành động của một dân tộc thì mới mang đầy đủ ý nghĩa của khái niệm “giá trị truyền thống”. Tác giả Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Truyền thống văn hóa là những giá trị tương đối ổn định (những kinh nghiệm tập thể) thể hiện dưới những khuôn mẫu xã hội được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và được cố định dưới dạng những phong tục tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận” [31].
Một khái niệm khác của tác giả Trần Nguyên Việt: “Có thể coi truyền thống là một bộ phận tương đối ổn định của ý thức xã hội, được lặp đi lặp lại trong suốt tiến trình hình thành và phát triển của các nền văn hóa tinh thần và vật chất, là một giá trị nhất định đối với từng nhóm người, từng giai cấp, cộng đồng và xã hội nói chung” [4]. Như vậy, có thể khái quát văn hóa truyền thống với những tính chất cơ bản: Thứ nhất, là tính giá trị; Thứ hai, là tính lưu truyền; Thứ ba, là tính ổn định. Khi nói đến văn hóa truyền thống là nói đến những truyền thống đã được lịch sử đánh giá, khẳng định ý nghĩa tích cực của chúng đối với cộng đồng trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Đồng thời, khi xem xét, đánh giá truyền thống và các giá trị văn hóa truyền thống cần phải có quan điểm biện chứng, quan điểm lịch sử, nghĩa là phải đặt chúng trong những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử nhất định của cả quá khứ và hiện tại.
Bản sắc văn hóa Theo Từ điển tiếng Việt, thuật ngữ "bản sắc" dùng để chỉ tính chất, màu sắc riêng tạo thành phẩm chất đặc biệt của một sự vật tức là nói tới sắc thái, đặc tính, đặc thù riêng của sự vật đó. Trong thực tế, khi nói "bản sắc" thường là nói tới cái riêng, cái rất riêng của một sự vật để phân biệt nó với các sự vật khác trong thế giới khách quan. Quan niệm này cũng gần với một phương pháp định nghĩa trong Lôgic học là định nghĩa "qua giống gần gũi để chỉ ra sự khác biệt về loài". Cách định nghĩa này có phần nhấn mạnh cái riêng, cái đặc thù, cái biểu hiện ra bên ngoài của bản chất sự vật.
Giáo dục giá trị văn hóa 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các giá trị có thể được định nghĩa là những gì học được, tương đối lâu dài, có cơ sở tri thức luận, và thể hiện các quá trình khái niệm hóa về đạo đức, hỗ trợ chúng ta trong việc đưa ra các đánh giá và chuẩn bị cho chúng ta hành động.