chương 1 và chương 2, tác giả đã mô tả các bước để xây dựng hệ thống giám sát những thay đổi về nội dung trang web và đưa ra cảnh báo kịp thời khi phát hiện có sự thay đổi. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com XÂY DỰNG HỆ THỐNG GIÁM SÁT VÀ CẢNH BÁO SỰ THAY ĐỔI NỘI DUNG TRANG WEB CHƢƠNG 1: CÔNG NGHỆ WEB VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ AN NINH 1. Tổng quan về Website 1. Khái niệm Web Web là viết tắt của World Wide Web, là mạng lưới toàn cầu mà mọi người có thể truy cập (đọc và viết) qua máy tính hoặc các thiết bị kết nối với mạng Internet.
Thuật ngữ này thường được hiểu nhầm là từ đồng nghĩa với chính thuật ngữ Internet, nhưng thực ra web chỉ là một trong các dịch vụ chạy trên Internet (Theo wikipedia. Các dữ liêu trang web được lưu trữ trong hệ thống các siêu máy chủ nối mạng Internet. Để xem được các trang web, người dùng cần sử dụng một chương trình được chuyên cho việc này gọi là trình duyệt web. Chương trình sẽ nhận dữ liệu là những đường dẫn hay còn gọi là địa chỉ URL, sau đó trình duyệt sẽ gửi những thông tin yêu cầu đến máy chủ theo địa chỉ đó và hiển thị những kết quả nhận được lên màn hình máy tính của người dùng.
Ngoài ra, trong mỗi trang web đều có các liên kết siêu văn bản (hyperlink), người sử dụng có thể kết nối với các tài liệu hoặc các trang web khác theo những liên kết đó, hoạt động này được gọi là duyệt web 1. Hoạt động của Web Thông qua trình duyệt, người và máy chủ sẽ kết nối với nhau bằng địa chỉ URL. Tùy theo những yêu cầu khác nhau, ứng dụng web sẽ gửi những yêu cầu đó đến máy chủ, máy chủ sẽ xử lý và gửi dữ liệu về trình duyệt, sau đó người dùng sẽ nhận được những thông tin hiển thị trên trình duyệt. - Website tĩnh là website mà người quản trị, hay người sử dụng không thể tùy ý thay đổi nội dung và hình ảnh, muốn thay đổi cần có kiến thức về HTML cơ bản để sửa trực tiếp trong mã nguồn vì chúng được viết hoàn toàn dựa trên nền tảng HTML, CSS.
11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Website động là website được xây dựng kèm theo một bộ công cụ để người quản trị có thể tùy biến nội dung dành cho người quản trị có thể dễ dàng thay đổi nội dung, hình ảnh. Website động thường được thiết kế bưởi những người lập trình với các công nghệ, ngôn ngữ như PHP, ASP. Trình duyệt Web Như đã nêu, trình duyệt Web là phần mềm cho phép người dùng truy cập các trang web, tương tác với nội dung các trang web như văn bản, hình ảnh, đoạn phim, nhạc, trò chơi và các thông tin khác. Trong một trang web có thể chứa những liên kết tới những nội dung khác hoặc những trang web khác.
Để hiển thị nội dung web, các trang web phải được định dạng dưới dạng HTML. Trình duyệt web và máy chủ web thường giao tiếp với nhau bằng việc sử dụng giao thức HTTP để truyền thông tin trang web. HTTP được sử dụng rộng rãi nhất là HTTP/1. Các trang được định vị bằng cách thức của một URL (bộ định vị tài nguyên chung), được coi như là một địa chỉ, bắt đầu bằng cụm http: để truy cập HTTP.
Định dạng của một trang web thường là file HTML (ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản), sử dụng giao thức HTTP và sử dụng kiểu nội dung MIME. Hầu hết các trình duyệt đều hỗ trợ nhiều định dạng file khác ngoài HTML, như các định dạng ảnh JPEG, GIF, PNG, PDF. ngoài ra nếu sử dụng các plug-in, các định dạng có thể mở rộng để hỗ trợ nhiều hơn. Một số trình duyệt web phổ biến hiện nay bao gồm Internet Explorer, Mozilla Firefox, Safari, Google Chrome, Opera,… 1.
Địa chỉ URL URL là viết tắt của Uniform Resource Locator (dịch là Định vị Tài nguyên thống nhất), URL dùng trong Internet và để tham chiếu tới tài nguyên nào đó, nó mang lại khả năng liên kết cho các trang mạng. Các tài nguyên nhau sử dụng địa TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com XÂY DỰNG HỆ THỐNG GIÁM SÁT VÀ CẢNH BÁO SỰ THAY ĐỔI NỘI DUNG TRANG WEB chỉ để tham chiếu, đó là URL, còn tên gọi nữa là địa chỉ mạng, liên kết mạng hay gọn là liên kết. Mỗi URL là một dạng của ULI, và chúng đều tuân theo tiêu chuẩn cú pháp, gồm có nhiều phần được liệt kê dưới đây: - URI scheme hay phương pháp truy cập thường là tên giao thức (ví dụ: http, ftp) nhưng cũng có thể là một cái tên khác (ví du: news, mailto). - Tên máy chủ (ví dụ: vi.org) - Chỉ định thêm cổng (có thể không cần) - Đường dẫn tuyệt đối của tài nguyên (ví dụ: trang/muc) - Các truy vấn (có thể không cần) - Chỉ định mục con (có thể không cần) Hiện nay trên thế giới mỗi ngày có rất nhiều tên miền (domain) (thí dụ org) mới xuất hiện.
HTML HTML là chữ viết tắt của cụm từ HyperText Markup Language (Ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản) được sử dụng để tạo một trang web, trên một website có thể sẽ chứa nhiều trang và mỗi trang được quy ra là một tài liệu HTML. Cha đẻ của HTML là Tim Berners-Lee, cũng là người khai sinh ra World Wide Web và chủ tịch của World Wide Web Consortium (W3C – tổ chức thiết lập ra các chuẩn trên môi trường Internet). Một tài liệu HTML được hình thành bởi các phần tử HTML (HTML Elements) được quy định bằng các cặp thẻ (tag), các cặp thẻ này được bao bọc bởi một dấu ngoặc ngọn (ví dụ <html>) và thường là sẽ được khai báo thành một cặp, bao gồm thẻ mở và thẻ đóng (ví <strong> dụ </strong> và ). Các văn bản muốn được đánh dấu bằng HTML sẽ được khai báo bên trong cặp thẻ (ví dụ <strong>Đây là chữ in đậm</strong>).
Nhưng một số thẻ đặc biệt lại không có 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thẻ đóng và dữ liệu được khai báo sẽ nằm trong các thuộc tính (ví dụ như thẻ <img>). Một tập tin HTML sẽ bao gồm các phần tử HTML và được lưu lại dưới đuôi mở rộng là. Khi một tập tin HTML được hình thành, việc xử lý nó sẽ do trình duyệt web đảm nhận. Trình duyệt sẽ đóng vai trò đọc hiểu nội dung HTML từ các thẻ bên trong và sẽ chuyển sang dạng văn bản đã được đánh dấu để đọc, nghe hoặc hiểu (do các bot máy tính hiểu).
Tên miền Tên miền là dịch vụ có mục đích chính của là cung cấp một hình thức đại diện, dùng những tên dễ nhận biết, dễ nhớ thay cho những tài nguyên Internet mà đa số là những địa chỉ bằng số. Với cách này có thể cho phép bất kỳ tài nguyên nào nói chung, website nói riêng có thể được di chuyển đến một địa chỉ vật lý khác trong cấu trúc liên kết địa chỉ mạng, có thể là toàn cầu hoặc chỉ cục bộ trong một mạng intranet. Việc dịch từ các tên miền sang địa chỉ IP và ngược lại là do hệ thống DNS trên toàn cầu thực hiện (Theo wikipedia. Với việc sử dụng các địa chỉ dạng chữ cái thay cho các địa chỉ IP, tên miền cho phép người dùng Internet có thể nhớ dễ dàng và dễ dàng tìm kiếm các trang web.
Ngoài ra, tính uyển chuyển của mình, trong hệ thống tên miền, nhiều địa chỉ IP có thể cùng được gán cùng vào một tên miền, và ngược lại, nhiều tên miền đều cùng chỉ đến một địa chỉ IP. Theo quy định, một tên miền chỉ có thể có tối đa 67 ký tự, các ký tự đó chỉ gồm các chữ cái, chữ số và 1 vài ký tự đặc biệt. Phân loại theo miền mở rộng, một số tên miền mở rộng thông dụng: .com: Dùng cho các tổ chức, công ty thương mại.net: Dùng cho các tổ chức, công ty về mạng, dịch vụ mạng.org: Dùng cho các tổ chức phi lợi nhuận. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com XÂY DỰNG HỆ THỐNG GIÁM SÁT VÀ CẢNH BÁO SỰ THAY ĐỔI NỘI DUNG TRANG WEB .gov: Dùng cho các tổ chức chính phủ.edu: Dùng cho các tổ chức giáo dục, trường học.biz: Dùng cho các công ty thương mại trực tuyến.
Tổng quan về Webserver Webserver (máy chủ web) là từ được dùng để chỉ phần mềm máy chủ, hoặc phần cứng dành riêng để chạy các phần mềm trên máy chủ, để từ đó có thể cung cấp các dịch vụ World Wide Web. Một máy chủ web xử lí các yêu cầu (request) từ các client (trong mô hình server - client) thông qua giao thức HTTP và một số giao thức liên quan khác. Chức năng cơ bản nhất của máy chủ web là lưu trữ, xử lí và phân phối nội dung các trang web đến khách hàng, cụ thể ở đây là máy tính người dùng, hay còn gọi là client trong mô hình server-client. Giao tiếp giữa của máy tính người dùng và máy chủ thực hiện thông qua giao thức HTTP.
Nội dung phân phối chính từ máy chủ web là các nội dung định dạng HTML, bao gồm hình ảnh, style sheets, các đoạn mã script hỗ trợ các nội dung văn bản thô. Một số Webserver thông dụng hiện nay: Hình 1. Một số Webserver thông dụng 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trước đây, trong những ngày đầu phát triển, có rất nhiều ngôn ngữ lập trình cho website như JSP, ASP, PHP, ASP. tuy nhiên với những ưu thế vượt trội, hiện tại có hai ngôn ngữ được dùng phổ biến nhất là PHP và ASP.
Tổng quan về an ninh mạng 1. Khái niệm về an toàn và an ninh mạng Trước đây, nói đến an ninh thông tin người ta thường nói đến các biện pháp bảo mật vật lý sử dụng để bảo vệ cho những thông tin quan trọng khỏi bị truy cập trái phép và để bảo vệ nó chống lại thay đổi hoặc tiêu hủy. Các biện pháp như lưu trữ tài liệu có giá trị trong kết sắt hoặc ở những nơi an toàn à hạn chế việc truy cập vật lý đến các tài liệu đó. Ngày nay, với sự phát triển của CNTT, sự phổ biến của máy tính và internet, cách truy cập dữ liệu đã thay đổi, các phương pháp bảo vệ dữ liệu đã thay đổi đáng kể.
Với một chiếc máy tính thường chỉ yêu cầu các công bảo vệ dữ liệu trên máy tính đó như phần mềm diệt virus hay phần quyền truy cập hệ thống của người dùng, nhưng với một hệ thống máy tính nối mạng thì cần đòi hỏi nhiều hơn, ví dụ như dữ liệu vào hệ thống đó được bảo vệ không chỉ từ truy cập địa phương mà còn từ các truy cập từ xa trái phép và cần phát hiện và ngăn chặn các thay đổi dữ liệu trong quá trình truyền giữa các hệ thống.