phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu theo 3 Chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở luận về Nợ xấu và Xử lý nợ xấu trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Chƣơng 2: Thực trạng về xử lý nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT Việt Nam – chi nhánh tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2014-2017. Chƣơng 3: Giải pháp xử lý nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Việt Nam – chi nhánh tỉnh Lạng Sơn. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LUẬN VỀ NỢ XẤU VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
RỦI RO TÍN DỤNG VÀ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Rủi ro tín dụng 1. Khái niệm rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cho vay của ngân hàng, biểu hiện thực tế qua việc khách hàng không trả đƣợc nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng. Nhƣ vậy, theo khái niệm này khi đến hạn mà khách hàng trả chậm, trả không đúng hạn hoặc không trả thì có nghĩa là rủi ro tín dụng xảy ra.
Theo Thông tƣ 02/2013/TT-NHNN về phân loại tài sản có, phƣơng pháp trích lập dự phòng rủi ro và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của TCTD, chi nhánh nƣớc ngoài “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng” (sau đây gọi tắt là “rủi ro”) là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Tóm lại, rủi ro tín dụng sẽ phát sinh trong trƣờng hợp ngân hàng không thu đƣợc đầy đủ cả gốc và lãi của khoản cho vay hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn. Rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay mà còn bao gồm nhiều hoạt động khác nhƣ bảo lãnh, tài trợ thƣơng mại, cho vay trên thị trƣờng liên ngân hàng… 1. Phân loại rủi ro tín dụng.
Có rất nhiều tiêu thức để phân chia rủi ro tín dụng * Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro 6 - Rủi ro giao dịch: là rủi ro liên quan đến từng khoản vay đơn lẻ hoặc từng khách hàng cụ thể. Đây là rủi ro mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế, sai sót trong quá trình tác nghiệp nhƣ thẩm định tín dụng, giải ngân, kiểm soát sau khi cho vay hoặc thực hiện bảo đảm tiền vay. - Rủi ro danh mục tín dụng: là rủi ro mà nguyên nhân phát sinh là những hạn chế trong quản lý danh mục tín dụng của ngân hàng. Rủi ro này xảy ra do các yếu tố, đặc điểm riêng của khách hàng, lĩnh vực khách hàng kinh doanh hoặc rủi ro do ngân hàng tập trung tín dụng quá mức vào một/một nhóm khách hàng.
* Căn cứ vào mức độ tổn thất - Rủi ro đọng vốn (do không hoàn trả nợ đúng hạn): là rủi ro xảy ra trong trƣờng hợp đến hạn trả nợ theo thỏa thuận mà ngân hàng vẫn chƣa thu hồi đƣợc vốn, ảnh hƣởng đến kế hoạch nguồn vốn của ngân hàng. - Rủi ro mất vốn (do không có khả năng trả nợ): là rủi ro xảy ra trong trƣờng hợp khách hàng mất khả năng trả nợ gốc và/hoặc lãi, buộc ngân hàng phải thanh lý TSBĐ để thu nợ. Rủi ro mất vốn làm tăng chi phí nợ khó đòi và giảm chi phí giám sát. Đồng thời giảm lợi nhuận do các khoản dự phòng rủi ro tín dụng gia tăng.
* Căn cứ vào giai đoạn phát sinh rủi ro - Rủi ro trƣớc khi cho vay: là rủi ro xảy ra trong khâu lập hồ sơ và phân tích tín dụng dẫn đến quyết định cho vay các khách hàng không đủ điều kiện và không có khả năng trả nợ trong tƣơng lai. - Rủi ro trong khi cho vay: là rủi ro xảy ra trong quy trình giải ngân. Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro này gồm: sai sót trong giải ngân, giải ngân không đúng tiến độ, không cập nhật thông tin khách hàng thƣờng xuyên hoặc không dự báo đƣợc rủi ro tiềm năng. - Rủi ro sau khi cho vay: xảy ra khi ngân hàng không nắm đƣợc tình hình và mục đích sử dụng vốn vay, thay đổi trong khả năng tài chính cũng nhƣ 7 thiện chí trả nợ của khách hàng.
* Căn cứ vào phạm vi của rủi ro tín dụng - Rủi ro tín dụng cá biệt: là rủi ro xảy ra chỉ đối với một khoản tín dụng hay một khách hàng cụ thể. Nguyên nhân thƣờng là do đặc điểm lĩnh vực kinh doanh của khách hàng, thay đổi bất thƣờng về tình hình tài chính, năng lực quản lý của khách hàng hay đạo đức khách hàng. - Rủi ro hệ thống: là rủi ro xảy ra không chỉ đối với một khoản tín dụng, một khách hàng, một ngân hàng mà có tính hệ thống với hiệu ứng lan truyền trong toàn hệ thống ngân hàng. Nguyên nhân thƣờng do: thay đổi cơ chế chính sách của chính phủ, tác động kinh tế vĩ mô đến khách hàng, sự bất ổn chính trị, các nguyên nhân từ phía môi trƣờng tự nhiên… 1.
Đặc điểm rủi ro tín dụng. - Rủi ro tín dụng mang tính bị động: Tổn thất tín dụng đối với ngân hàng chỉ xảy ra sau khi ngân hàng giải ngân tức là trong quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng. Khách hàng là ngƣời trực tiếp sử dụng vốn vay nên khách hàng mới là ngƣời có đầy đủ thông tin về chất lƣợng và hiệu quả của việc sử dụng vốn vay. Do vậy, ngân hàng thƣờng ở thế bị động, là ngƣời biết thông tin sau hoặc biết không chính xác, không đầy đủ về những khó khăn, thất bại của khách hàng trong kinh doanh nói chung và trong việc sử dụng vốn vay nói riêng, khiến cho ngân hàng thƣờng bị chậm trễ trong ứng phó.
- Rủi ro có tính chất đa dạng và phức tạp: Do tính chất đa dạng và phức tạp về khách hàng vay vốn, đối tƣợng cho vay, loại hình tín dụng, nguyên nhân và hậu quả… đã làm cho rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng phức tạp. Chính sự đa dạng và phức tạp của rủi ro tín dụng buộc ngân hàng phải chú trọng nhiều hơn đến công tác quản trị rủi ro tín dụng, từ việc thiết lập chính sách tín dụng, sử dụng các công cụ quản trị rủi ro, đến quy trình quản trị trong khâu nhận diện, đánh giá, đo lƣờng, xử lý và kiểm soát rủi ro tín dụng. 8 - Rủi ro tín dụng có tính tất yếu: Bất cứ hoạt động kinh doanh nào cũng gắn liền với rủi ro, trong đó kinh doanh tín dụng cũng không là ngoại lệ. Chấp nhận rủi ro là tất yếu trong hoạt động tín dụng ngân hàng dựa trên mối quan hệ “rủi ro - lợi nhuận” nhằm tìm ra những cơ hội đạt đƣợc lợi nhuận tƣơng thích với mức rủi ro chấp nhận.
Ngân hàng sẽ hoạt động an toàn và hiệu quả nếu mức rủi ro mà ngân hàng chấp nhận là hợp lý, kiểm soát đƣợc và trong khả năng các nguồn lực tài chính và năng lực kinh doanh của ngân hàng. Nợ xấu trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm về nợ xấu. Nợ xấu là các khoản nợ dƣới chuẩn, bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ.
Về bản chất, nợ xấu là khái niệm dùng để chỉ các khoản nợ của khách hàng đang đối diện với rủi ro cao trong việc thu hồi lại cả gốc và lãi do khách hàng gặp khó khăn, làm ăn thua lỗ hoặc phá sản. Yếu tố rủi ro trong kinh doanh là yếu tố ngẫu nhiên khó đoán biết trƣớc, môi trƣờng sản xuất kinh doanh tự nó phải chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố ngẫu nhiên nhƣ thiên tai, chiến tranh, lạm phát, thất nghiệp, khủng hoảng kinh tế, ảnh hƣởng đến thị trƣờng và khả năng tiêu thụ sản phẩm. Ngân hàng là một ngành kinh doanh nhiều rủi ro và các khoản nợ xấu cũng là một phần tất yếu trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Nhƣng nếu tỷ lệ nợ xấu quá cao, hoạt động ngân hàng sẽ bị tê liệt vì các ngân hàng sẽ không có vốn để thanh toán cho ngƣời gửi tiền khi đến hạn.
Ở mức độ trầm trọng sẽ dẫn tới sự phá sản ngân hàng. Do đó, vấn đề quản lí rủi ro tín dụng, ngăn ngừa, hạn chế và xử lí nợ xấu là một nhiệm vụ hết sức quan trọng của các NHTM. Trƣớc đây, hệ thống quy định xác định nợ xấu của Việt Nam dựa trên Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005, theo đó “Nợ xấu là những khoản nợ đƣợc phân vào nhóm 3 (dƣới chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ) và nhóm 5 (có khả năng mất vốn)”. Khi Thông tƣ 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 9 và Thông tƣ 09/2014/TT-NHNN ngày 18/03/2014 của NHNN Việt Nam ra đời thay thế cho Quyết định 493, đƣợc đánh giá là sẽ giúp cho NHNN thực hiện xác định cũng nhƣ giám sát nợ xấu ngân hàng tốt hơn.
So với Quyết định 493, Thông tƣ 02 và 09 có ba điểm thay đổi lớn: Một là, phạm vi xác định, phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro đƣợc mở rộng thêm các tài sản nhƣ các khoản cấp tín dụng dƣới hình thức phát hành thẻ tín dụng, tiền mua và ủy thác mua trái phiếu doanh nghiệp, ủy thác cấp tín dụng, tiền gửi (trừ tiền gửi thanh toán) tại các TCTD… Hai là, thay đổi về mặt phƣơng pháp, các TCTD thực hiện xác định, phân loại nợ phải sử dụng đồng thời, thống nhất cả phƣơng pháp định tính và định lƣợng. Ba là, các TCTD ngoài việc tự phân loại nợ còn phải sử dụng kết quả phân loại của Trung tâm thông tin Tín dụng NHNN (CIC) cung cấp để điều chỉnh theo hƣớng nếu mức độ rủi ro do TCTD phân loại thấp hơn của CIC thì phải sử dụng kết quả của CIC. Với những quy định mới này, NHNNVN đã thể hiện quyết tâm trong việc công khai, minh bạch, nâng cao chất lƣợng cung cấp thông tin để có đƣợc sự thống nhất trong số liệu và phản ánh chính xác thực trạng nợ xấu tại Việt Nam. Theo quy định của Việt Nam tại Thông tƣ số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Ngân hàng Nhà nƣớc, “Nợ xấu là các khoản nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5”.