CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN NỢ XẤU VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI CÁC CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH 1. Tổng quan về cho thuê tài chính 1. Khái niệm, đặc trưng, các phương thức cho thuê tài chính 1.1 Khái niệm: Khi đề cập đến hoạt động CTTC, mỗi tổ chức, quốc gia đều đưa ra những định nghĩa theo cách tiếp cận của mình: Theo định nghĩa của Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS 17): CTTC là loại cho thuê tài sản mà bên cho thuê có sự chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản cho bên thuê. Quyền sở hữu tài sản có thể chuyển giao vào cuối thời hạn thuê.
Theo tiêu chuẩn kế toán Mỹ: CTTC là một giao dịch thuê tài sản thoả mãn một trong các yếu tố sau: Thời hạn thuê lớn hơn 75% thời gian hữu dụng của tài sản. Hợp đồng thuê chứa điều khoản thỏa thuận cho phép bên thuê được quyền mua tài sản với giá thấp hơn so với giá trị thực của tài sản. Quyền sở hữu tài sản được chuyển giao cho bên thuê vào cuối kỳ hạn thuê. Giá trị của hợp đồng thuê lớn hơn 90% tổng giá trị của tài sản thuê.
Tại Việt Nam, định nghĩa chi tiết và đầy đủ về CTTC tại Nghị định số 39/2014/NĐ-CP ngày 07/05/2014 như sau: “CTTC là hoạt động cấp tín dụng trung hạn, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài chính giữa bên cho thuê tài chính với bên thuê tài chính. Bên cho thuê tài chính cam kết mua tài sản cho thuê tài chính theo yêu cầu của bên thuê tài chính và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê tài chính trong suốt thời hạn cho thuê. Bên thuê tài chính sử dụng tài sản thuê tài chính và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê quy định trong hợp đồng cho thuê tài chính” 2 1.2 Đặc trưng Thứ nhất, CTTC là phương thức cấp tín dụng mà đối tượng là một tài sản cụ thể. Khác với các hình thức cấp tín dụng khác mà theo đó, TCTD chuyển giao một khoản tiền, trong hình thức cấp tín dụng CTTC, bên cho thuê tiến hành cấp tín dụng bằng cách chuyển giao cho khách hàng (bên thuê) một tài sản cụ thể (máy móc, dây chuyền sản xuất, phương tiện vận tải hoặc động sản khác) để bên thuê sử dụng trong một thời gian nhất định.
Bên thuê có nghĩa vụ trả toàn bộ tiền thuê theo thỏa thuận. Tính chất thanh toán trọn vẹn của giao dịch CTTC cho thấy bản chất tín dụng của hoạt động này. Cũng tương tự như pháp luật một số quốc gia trên thế giới, pháp luật Việt Nam ghi nhận CTTC là hình thức cấp tín dụng trung và dài hạn, nhằm phù hợp với đặc điểm của đối tượng cho thuê là những động sản có giá trị, thời gian cần thiết để khấu hao thường từ một năm trở lên. Thứ hai, CTTC là hình thức cho thuê mà hầu hết các quyền năng của chủ sở hữu (bên cho thuê) được chuyển giao cho bên thuê.
Khác với các hình thức thuê tài sản thông thường theo quy định của pháp luật dân sự, trong hoạt động CTTC bên cho thuê thường chỉ giữ quyền sở hữu “danh nghĩa” đối với tài sản cho thuê (quyền này cho phép bên cho thuê có thể thu hồi tài sản cho thuê nếu bên thuê vi phạm hợp đồng), còn những quyền năng cụ thể đối với tài sản cho thuê được chuyển giao hầu như hoàn toàn cho bên thuê. Điều này được lý giải bởi bản chất tín dụng của hoạt động CTTC: Bên cho thuê chỉ quan tâm đến khả năng thu hồi cả gốc và lãi của khoản tín dụng, còn việc sử dụng khoản tín dụng được cấp là quyền của bên nhận tín dụng (bên thuê). Cụ thể hoá những đặc trưng của nghiệp vụ CTTC, quy định pháp luật Việt Nam hiện hành ghi nhận CTTC phải có một trong những điều kiện sau đây: Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được chuyển quyền sở hữu tài sản thuê hoặc được tiếp tục thuê theo sự thoả thuận của hai bên; Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được quyền ưu tiên mua tài sản thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản thuê tại thời điểm mua lại; 3 Thời hạn cho thuê một loại tài sản ít nhất phải bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản thuê; Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại Hợp đồng CTTC, ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng. Các phương thức cho thuê tài chính Cho thuê tài chính ba bên Phương thức tài trợ ba bên là phương thức CTTC phổ biến nhất, được áp dụng nhiều nhất để tài trợ cho các doanh nghiệp, đặc biệt là CTTC đối với máy móc thiết bị.
Trên thế giới, 80% hợp đồng CTTC áp dụng theo phương thức này. Khách hàng lựa chọn tài ① sản Bên thuê Bàn giao, lắp đặt tài Nhà cung ứng ⑤ sản (Bên B) (Bên C) ② Thương lượng Thanh toán Hợp đồng mua Hợp đồng thuê điều khoản tiền thuê ⑥ mua tài sản bán tài sản ⑦ Thanh toán tiền thuê ③ ④ Bên cho thuê (Bên A) Hình 1.1: Quy trình CTTC ba bên Nguồn: Quy trình CTTC của BLC 1-Bên thuê (bên B) có nhu cầu trang bị tài sản để phục vụ chiến lược kinh doanh, Bên B sẽ trực tiếp lựa chọn tài sản theo nhu cầu của mình. 2- Bên B sẽ thương lượng điều khoản thuê với Bên A. 3- Bên A sẽ ký hợp đồng thuê tài chính với Bên B.
4 4- Bên A sẽ ký hợp đồng mua bán tài sản với Bên C. 5- Bên C bàn giao, lắp đặt tài sản cho bên A. Đồng thời Bên A bàn giao tài sản cho Bên B sử dụng. 6- Bên A thanh toán tiền mua tài sản cho Bên C.
7- Bên B sẽ thanh toán tiền thuê tài chính cho bên A theo hợp đồng thuê tài chính đã ký kết. Với phương thức này, bên cho thuê có thể cho thuê tài chính thông qua chuỗi nhà cung ứng. Cụ thể: Công ty CTTC (BLC) cho thuê tài chính thông qua Toyota. ① Bên cho thuê Toyota ② (BLC) ⑤ ④ ⑥ ⑧ ⑦ ③ Bênthuê Bên thuê Hình 1.2: Quy trình CTTC qua thông qua chuỗi nhà cung ứng Nguồn: Quy trình CTTC của BLC ① Toyota và BLC ký thỏa thuận hợp tác CTTC ② BLC gửi các mẫu tài liệu cho thuê tài chính cho Toyota để hướng dẫn khách hàng.
③ Bên thuê tiếp cận Toyota và được giới thiệu dịch vụ cho thuê ④ Người hỗ trợ đại lý Toyota điền hồ sơ thuê và gửi đến BLC ⑤ BLC thẩm định hồ sơ và trả lời cho Toyota chấp thuận hay không chấp thuận cho thuê ⑥ Toyota thông báo cho khách hàng ⑦ Khách hàng (bên thuê) hoàn thành hồ sơ xin thuê, ký hợp đồng, thủ tục giải ngân. ⑧ Bên thuê thanh toán tiền thuê hàng kỳ theo hợp đồng đã ký 5 Cho thuê tài chính hai bên Bên cho thuê sử dụng tài sản sẵn có của mình để thực hiện nghiệp vụ CTTC. Các định chế tài chính rất ít sử dụng phương thức tài trợ này, trừ trường hợp đối với tài sản đã cho thuê thu hồi về không đem phát mại, mà thường do các công ty kinh doanh bất động sản và các công ty sản xuất máy móc thiết bị thực hiện để đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm của họ.2: Quy trình CTTC hai bên Nguồn: Quy trình CTTC của BLC (1) Bên cho thuê và bên đi thuê ký hợp đồng CTTC (2) Bên cho thuê giao tài sản cho bên thuê sử dụng (3) Theo định kỳ bên thuê thanh toán tiền thuê cho bên cho thuê 1. Phương thức cho thuê tài chính đặc biệt Từ hai phương thức CTTC cơ bản, CTTC còn có một số phương thức đặc biệt như sau: Bán và thuê lại Bán và thuê lại (hoặc mua và cho thuê lại) là một phương thức đặc biệt của CTTC có sự tham gia của hai bên là bên cho thuê và bên thuê, trong đó bên thuê cũng đồng thời là bên cung cấp.
Phương thức này áp dụng chủ yếu như sau: Khi doanh nghiệp có nhu cầu về vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh nhưng không thể đi vay được tại các ngân hàng. Trong trường hợp đó, họ có thể bán lại một phần tài sản cố định nào đó cho công ty CTTC và ký hợp đồng thuê tài chính lại chính tài sản đó. Và như vậy, tiền bán tài sản nhận được từ công ty CTTC doanh nghiệp có thể sử dụng để bổ sung vốn lưu động, đồng thời doanh nghiệp vẫn duy trì 6 năng lực sản xuất hiện có. Cho thuê tài chính hợp vốn và Cho thuê tài chính hợp tác (i) Cho thuê tài chính hợp vốn CTTC hợp vốn là phương thức CTTC trong đó có từ hai bên cho thuê trở lên cùng tham gia trong một giao dịch CTTC.
Trong số các bên cho thuê sẽ có một bên cho thuê đứng ra làm đầu mối trong mọi giao dịch. Quyền lợi và rủi ro của từng bên cho thuê tham gia trong giao dịch CTTC hợp vốn được phân chia tương ứng với tỷ lệ vốn tham gia. (ii) Cho thuê tài chính hợp tác Đây cũng là một hình thức CTTC khá phổ biến, đặc biệt ở các thị trường phát triển. Trong hình thức này có sự tham gia của 3 bên: bên đi thuê, công ty CTTC và Bên cho vay (Ngân hàng, các định chế tài chính).
Ở đây, nghĩa vụ của doanh nghiệp đi thuê không có gì thay đổi, chỉ khác là công ty CTTC đã sử dụng hợp đồng cho thuê để thế chấp cho Bên cho vay nhằm đảm bảo cho một khoản vay nào đó. Cả hai phương thức CTTC hợp vốn và CTTC hợp tác thường được áp dụng trong trường hợp tài sản cho thuê có giá trị lớn mà một công ty CTTC không đủ khả năng về vốn để cho thuê, hoặc không được cho thuê vượt hạn mức (Ở Việt Nam, tổng dư nợ CTTC của một công ty CTTC đối với một khách hàng không được vượt quá 25% vốn tự có và đối với một nhóm khách hàng liên quan không được vượt quá 50%, điều 128 Luật các TCTD) hoặc không muốn chấp nhận rủi ro vì tập trung lượng vốn quá lớn vào một khách hàng. Cho thuê tài chính giáp lưng Là hình thức CTTC mà bên đi thuê thứ 1 cho bên đi thuê thứ 2 thuê lại tài sản mà bên thuê thứ 1 đã đi thuê tài chính, thông qua sự đồng ý của bên cho thuê bằng văn bản.