phần mở đầu và kết luận, bố cục của bài nghiên cứu gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về nợ xấu và xử lý nợ xấu. Chƣơng 2: Thực trạng xử lý nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Chi nhánh Đông Sài Gòn. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác xử lý nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Chi nhánh Đông Sài Gòn. 4 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NỢ XẤU 1.1 Khái niệm nợ xấu ngân hàng Cho đến nay có nhiều khái niệm khác nhau về nợ xấu, nợ xấu thƣờng đƣợc nhắc đến với những thuật ngữ khác nhau nhƣ “ bad debt”, “ doubtful debt” đó là những món nợ không có khả năng hoàn lại, những món nợ khó đòi.
Có một vài khái niệm về nợ xấu có thể xem xét đến, cụ thể nhƣ sau: Theo các chuyên gia tư vấn của Liên hợp quốc (AEG), về cơ bản, một khoản nợ đƣợc coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chƣa trả từ 90 ngày trở lên đã đƣợc nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dƣới 90 ngày nhƣng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ không đƣợc thanh toán đầy đủ. Nhƣ vậy, theo AEG, nợ xấu đƣợc xác định dựa trên hai yếu tố: - Quá hạn trên 90 ngày; - Khả năng trả nợ nghi ngờ. Theo ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking Supervision - BCBS), không đƣa ra khái niệm nợ xấu cụ thể, tuy nhiên, trong các hƣớng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS chỉ ra một khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra, một là: ngân hàng thấy ngƣời vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chƣa thực hiện hành động gì để gắng thu hồi nợ, hai là: ngƣời vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày. Theo Tổ chức tiền tệ Thế giới (International Moneytary Fund – IMF) một khoản vay đƣợc coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã đƣợc vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dƣới 90 ngày nhƣng có thể 5 nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy ngƣời vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (ngƣời vay phá sản).
Sau khi khoản vay đƣợc xếp vào danh mục nợ xấu, thì nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên đƣợc xếp vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi đƣợc lãi và gốc của khoản vay đó hoặc thu hồi đƣợc khoản vay thay thế. Theo Chuẩn mực kế toán Quốc tế (International Accounting Standards - IAS) về ngân hàng thƣờng đề cập các khoản nợ bị giảm giá trị thay vì sử dụng thuật ngữ nợ xấu. Một khoản nợ bị giảm giá trị thì tài sản đƣợc ghi nhận sẽ bị giảm xuống vì những tổn thất do chất lƣợng nợ xấu gây ra. IAS chú trọng tới khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian quá hạn chƣa tới 90 ngày hoặc chƣa quá hạn.
Để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng, IAS thực hiện phân tích dòng tiền tƣơng lai chiết khấu hoặc xếp hạng khoản vay của khách hàng. Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Tại Việt Nam, khái niệm nợ xấu đƣợc định nghĩa trong Thông tƣ số 02/2013/TT- NHNN ngày 21/01/2013 nhƣ sau: Nợ xấu là các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày trở lên, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, các khoản nợ đƣợc miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; khả năng thu hồi vốn khi cho vay của các TCTD. Tóm lại: Nợ xấu là một khoản tiền cho vay mà ngân hàng xác định không thể thu hồi lại đƣợc một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và lãi vay. Nợ xấu là khoản chi phí mà các ngân hàng thƣờng phải gánh chịu trong hoạt động kinh doanh khi không thu hồi đƣợc nợ.
Những khoản nợ xấu này thƣờng có những đặc điểm nhƣ: - Khả năng thu hồi nợ thấp, khả năng mất vốn cao và có thể mất vốn một phần hoặc toàn bộ; - Khách hàng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng khi đến hạn.2 Tiêu chí phân loại nợ và cách xác định nợ xấu 1.1 Tiêu chí phân loại nợ Theo quan điểm tại Việt Nam 6 Theo các chuyên gia kinh tế cho rằng phân loại nợ là quá trình các ngân hàng xem xét các danh mục cho vay và đƣa các khoản vay vào các nhóm khác nhau dựa trên rủi ro và các đặc điểm tƣơng đồng khác nhau của các khoản nợ đó. Các khoản cấp tín dụng bao gồm 05 nhóm: Nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn), Nhóm 2 (nợ cần chú ý), Nhóm 3 (nợ dƣới tiêu chuẩn), Nhóm 4 (nợ nghi ngờ), Nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn), các khoản nợ đƣợc phân loại từ nhóm 03 trở đi cụ thể nhƣ sau: Nợ nhóm 3 (nợ dƣới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 (Nợ cần chú ý); Các khoản nợ đƣợc miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; Các khoản nợ đƣợc phân loại vào nhóm 3 theo quy định. Nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dƣới 90 ngày theo thời hạn trả nợ đƣợc cơ cấu lại lần đầu; Các khoản nợ đƣợc cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai; Các khoản nợ đƣợc phân loại vào nhóm 4 theo quy định. Nợ nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ đƣợc cơ cấu lại lần đầu; Các khoản nợ đƣợc cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ đƣợc cơ cấu lại lần thứ hai; Các khoản nợ đƣợc cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chƣa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý; Các khoản nợ đƣợc phân loại vào nhóm 5 theo quy định.
Theo quan điểm của một số quốc gia trên thế giới Theo Laurin và Cộng sự (2002) thì việc phân loại nợ theo chuẩn mực kế toán quốc tế khó có tiêu chuẩn thống nhất và việc phân loại nợ đƣợc cho là trách nhiệm của ngƣời quản lý, ngƣời trực tiếp báo cáo. Ở một số quốc gia trên thế giới không có cơ chế quản lý chi tiết, các nhà quản lý có trách nhiệm quản lý và phân loại nợ nội bộ và đƣợc sự chấp thuận của cơ quan giám sát. Trong quan điểm này đánh giá vai trò của các cơ quan bên ngoài nhƣ (giám sát ngân hàng hoặc cơ quan kiểm toán). Ví dụ nhƣ tại Anh, các nhà giám sát ngân hàng không yêu cầu các ngân hàng áp dụng một loại hình phân loại nợ cụ thể nào.
Tuy nhiên các giám sát ngân hàng ngầm hiểu rằng các 7 ngân hàng sẽ có quy định nội bộ về quản lý rủi ro tín dụng phù hợp. Tại Hà Lan không có quy định cụ thể về phân loại nợ, tuy nhiên các nhà quản trị ngân hàng tự phân loại nợ và báo cáo việc phân loại nợ cho cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng.2 Cách xác định nợ xấu Theo quy định của NHNN Việt Nam thì những khoản nợ xấu là những khoản nợ thuộc nhóm 3,4 và 5 theo quy định về phân loại nợ. Tại Việt Nam thì nợ xấu có thể xác định dựa trên các yếu tố về thời gian quá hạn của các khoản nợ, hoặc đánh giá về khả năng trả nợ của khách hàng tức thiên về yếu tố định tính. - Dựa trên yếu tố về thời gian quá hạn: Những khoản nợ thuộc nhóm 3 trở là những khoản nợ xấu có thời gian quá hạn cụ thể nhƣ sau: Thời gian quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày (Nhóm 3), Thời gian quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày (Nhóm 4), Thời gian quá hạn trên 360 ngày (Nhóm 5).
- Dựa trên khả năng trả nợ của khách hàng: Là những khoản nợ đƣợc xác định dựa trên yếu tố định tính (Nhóm 3: Các TCTD đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn, có khả năng gây tổn thất. Nhóm 4 đƣợc các TCTD đánh giá là những khoản nợ có khả năng gây tổn thất cao. Nhóm 5: Các TDTD đánh giá là không có khả năng thu hồi vốn, chấp nhận mất vốn). Nhƣ vậy việc xác định nợ xấu theo quản điểm của NHNN Việt Nam dựa trên hai yếu tố: (i) đã quá hạn trên 90 ngày hoặc (ii) khả năng trả nợ đáng lo ngại của bên vay vốn.3 Hệ quả của nợ xấu 1.1 Đối với nền kinh tế xã hội Khi nợ xấu phát sinh có nghĩa là có mối quan hệ vay trả giữa khách hàng và ngân hàng gặp sự cố, khách hàng không thực hiện đúng các cam kết trong hợp đồng tín dụng đã ký với ngân hàng nhƣ khách hàng thanh toán nợ gốc và lãi vay không đúng kỳ hạn hoặc không thanh toán.
8 Việc phát sinh nợ xấu này tạo ra nhiều hệ quả tiêu cực cho dòng lƣu chuyển dòng vốn trong nền kinh tế và ảnh hƣởng rất lớn đến đời sống an sinh xã hội của ngƣời dân cụ thể nhƣ sau: Ảnh hƣởng của nợ xấu đến lƣu chuyển dòng vốn trong nền kinh tế: Khi một doanh nghiệp phát sinh nợ xấu tại ngân hàng là lúc doanh nghiệp này gặp khó khăn trong kinh doanh và dòng vốn của doanh nghiệp không quay vòng nhƣ kỳ vọng của doanh nghiệp mà nguyên nhân có thể là doanh nghiệp không thu đƣợc nợ từ các đối tác kinh doanh của doanh nghiệp.