chương 1 đã khái quát về mạng VoIP như hiện trạng mạng VoIP, ưu nhược điểm của mạng VoIP. Đồng thời chương này cũng đề cập tới mô hình phân lớp chức năng và các thành phần mạng VoIP để giúp chúng ta hiểu hơn về nội dung của các chương tiếp theo. 22 Luận văn cao học ĐTVT 2010B CHƯƠNG 2: GIAO THỨC IP VÀ GIẢI PHÁP TRUYỀN THOẠI QUA IP 2.1 Giao thức IP 2.1 Khái quát về giao thức IP Giao thức IP (là giao thức tầng mạng nằm trong chồng giao thức của mô hình OSI cũng như trong chồng giao thức TCP/IP sử dụng cho mạng máy tính. IP là một giao thức không tin cậy và không liên kết.
Tất cả các dữ liệu TCP, UDP, ICMP và IGMP được truyền đi dưới dạng các đơn vị dữ liệu (datagram). IP chỉ chịu trách nhiệm định tuyến các datagram đến đích, xác định xem nơi mà datagram sẽ được gửi đến,và nếu có vấn đề xảy ra thì sẽ lựa chọn một tuyến đường khác. Không tin cậy nghĩa là không có sự đảm bảo rằng gói IP đến đích thành công, bởi vì nó có thể bị trễ, không được định tuyến hay bị hỏng trong quá trình chia và tái hợp lại các đoạn tin. IP không có cơ chế điều khiển luồng hay tin cậy, do đó không có trường kiểm tra trong gói tin mà chỉ kiểm tra cho thông tin của phần header.
Công việc kiểm tra và điều khiển luồng thuộc về các tầng khác trong mô hình hệ thống mà chỉ có cơ chế báo lỗi trong IP bằng cách gửi các bản tin báo lỗi. Không liên kết có nghĩa là IP không quan tâm những node nào mà các datagram sẽ đi qua, hay trạm bắt đầu và kết thúc của datagram. Các datagram được truyền độc lập với nhau. Điều này có nghĩa là các gói IP được phân phát không có trật tự.
Nếu một nguồn gửi đi hai gói tin liên tiếp (A trước, B sau) tới cùng một đích, mỗi gói được định tuyến độc lập và đi theo các đường khác nhau đến đích, B đến sau A.2 Đánh địa chỉ trong IP Trường địa chỉ của IP gồm 32 bit và được chỉ định bởi trung tâm thông tin mạng (Network information Center). Bằng cách đánh địa chỉ cho phép các máy trên toàn bộ mạng có thể trao đổi thông tin với nhau một cách chính xác. Một địa chỉ IP thực chất gồm 2 phần đó là phần mạng(network) và phần trạm (host) tuy nhiên trong thực tế do chỉ phân chia làm hai phần thì không gian địa chỉ của một mạng trong cấu trúc một số lớp sẽ rất lớn( ví dụ như lớp A) do đó người 23 Luận văn cao học ĐTVT 2010B ta thường đưa thêm khái niêm mạng con. Mạng con được hình thành bằng cách lấy một số bit của phần host để làm nhận dạng, do đó không gian địa chỉ của một mạng sẽ được chia thành các mạng con thuận tiện cho việc quản lý cũng như định tuyến.
Và như vậy địa chỉ IP trong một số lớp sẽ gồm gồm 3 phần đó là phần network, phần subnet, và phần host. Kiến trúc đánh địa chỉ của internet gồm 5 lớp có tên là A,B,C,D,E. Trong đó lớp E được bắt đầu từ 11110 được dành cho việc sử dụng trong tương lai. Lớp A được bắt đầu bởi bit 0, 8 bit đầu tiên được dùng để nhận dạng network, 24 bit còn lại được dùng để nhận dạng host ( các giao diện trong mạng).
Do đó trong lớp A sẽ có 27 mạng và trong mỗi mạng sẽ có 224 host. Tuy nhiên với P P P P việc đưa vào khái niệm mạng con thì một mạng trong lớp A sẽ được phân thành các mạng con có không gian địa chỉ nhỏ hơn. Không gian địa chỉ của lớp A bắt đầu từ 1.255 0 8 31 0 Host net Lớp B được bắt đầu từ 10, 16 bit đầu tiên được dành cho phần network, 16bit còn lại được dùng cho phần host và cũng được phân thành các mạng con. Do đó lớp B sẽ có 214 mạng và trong mỗi mạng sẽ có 214 trạm.
Vậy không gian địa chỉ của lớp P P P P B sẽ từ 128.255 10 net Host Lớp C được bắt đầu từ 110, trong đó 24 bit đầu tiên được dùng cho phần network, 8 bit còn lại được dùng cho phần host. Không gian địa chỉ lớp 192.255 24 Luận văn cao học ĐTVT 2010B 0 24 31 0 net Host Lớp D bắt đầu từ 1110 và được sử dụng cho các thông tin đa điểm (multicast). Không gian địa chỉ 224.255 0 8 31 Multicast Addres Trong quá trình sử dụng người ta không dùng các địa chỉ có toàn các bit 1 hoặc toàn các bit 0 mà các địa chỉ này được sử dụng cho các mục đích đặc biệt. Và một vấn đề đi kềm với việc phân địa chỉ là vấn đề cấp phát địa chỉ như thế nào cho hợp lý.3 Cấu trúc gói tin IP (Datagram) Định dạng gói tin của IPv4 ( internet Protocol verion 4 ) như sau Version Header Type of Datagram length (byte) lenght service 16 bit identifier Flags 13-bit Fragmentation offset Time to live Upper Layer Header checksum Protocol 32 – bit Source IP Address 32 bit Destination IP Address Options ( if any) Data Hình 2.
1 Định dạng gói tin IPv4 Các trường có ý nghĩa như sau: +> version: 4 bit trong trường này cho bết phiên bản của giao thức IP mà Datagram đang tuân theo. Hiện tại nó mang giá trị 4 ( trong tương lai có thể mạng giá tri 6) 25 Luận văn cao học ĐTVT 2010B +> header length: Bởi vì có trường opption trong cấu trúc của Datagram nên phải có trường này để xác định chính xác xem dữ liệu bắt đầu từ đâu. Trường này có 4 bit do đó có thể chỉ ra tối đa 20 byte header. +> type of service (TOS): nhờ có trường này mà có thể cho phép nhiều ứng dụng có thể chạy trên IP cùng một lúc.
Các ứng dụng sẽ được phân biệt với nhau bởi giá trị của TOS. Một ý nghĩa khác của trường này là nhờ nó mà các cơ chế điều khiển luồng có thể căn cứ vào đó để quyết định mức ưu tiên cho từng loại dịch vụ, điều đó quyết định đến chất lượng dịch vụ. +> Datagram length: Trường này cho biết độ dài của toàn bộ gói IP được tính theo byte. Với độ dài 16 bits thì độ dài theo lý thuyết có thể có của gói tin là 65535 bytes.
Tuy nhiên, độ dài của gói hiếm khi dài hơn 1500 bytes và thường có khích thước là 576bytes. +> identifier, Flags,Fragmentation offset: Giúp cho quá trình phân hợp và nhận dạng các phân mảnh của dữ liệu +> Time to live: Trường này quy định số router mà gói được phép đi qua. Điều này tránh cho gói tin bị lặp mãi mãi trong mạng. +> Protocol: Trường này chỉ được để ý khi gói tin đến đích.
Giá trị của trường này cho biết giao thức nào ở lớp transport gói IP sẽ được đưa đến. Điều này cho phép nhiều giao thức của lớp trên có thể cùng chạy trên giao thức IP. +> header checksum: Trường này được router sử dụng để kiểm tra các bit lỗi trong header của gói. Nếu phát hiên có lỗi thì router sẽ khử bỏ gói đó mà không sửa lỗi.
+> Địa chỉ đích và địa chỉ nguồn: Hai trường này đều dài 32 bit được sử dụng cho việc định tuyến các gói tin đến đích và gửi bản tin báo lỗi iCMP nếu có lỗi xảy ra. +> option: Là một trường tuỳ chọn để thêm các đặc tínhkhác cho dịch vụ hoặc cho các điều khiển. +>Data : Là phần thông tin được truyền. Đây có thể là thông tin người sử dụng hoặc thông tin điều khiển.
26 Luận văn cao học ĐTVT 2010B 2.2 IPv6 Do sự phát triển mạnh mẽ của Internet, số lượng địa chỉ IP sẽ bị thiếu. IPv4 hiện nay sử dụng các giá trị 32 bit nên chỉ có thể cung cấp đủ số lượng địa chỉ IP trên lý thuyết. Tuy nhiên, do chia nhỏ thành nhiều lớp và việc đánh địa chỉ chỉ thực hiện ở từng lớp, trên thực tế thiếu rất nhiều địa chỉ có thể sử dụng được. Sự thiếu hụt này là một trong những lý do quan trọng dẫn tới sự ra đời của IPv6.
Một lý do khác là phải tăng chất lượng dịch vụ (QoS) và tăng độ an toàn trên mạng. Việc thiết kế lại giao thức làm giảm thời gian xử lý và băng thông. Cuối cùng, vì dung lượng bảng định tuyến của các router ngày càng tăng nên cần giảm kích thước của chúng xuống.1 Phần tiêu đề IPv6 là tập hợp những đặc tả về nâng cấp IPv4 và được IETF soạn thảo. Khuôn dạng của IPv6 Header được miêu tả dưới đây: Version T 13 T 13 Traffic Class Flow Label Payload Length Next Header Hop Limit Source address ::: Destination address ::: Data ::: Hình 2.
2 Phần tiêu đề của IPv6 Version Number: Chỉ phiên bản của giao thức IPv6. Ở đây, giao thức có thể nhận ra được phiên bản thứ mấy nên cả IPv4 và IPv6 cùng tồn tại trong nó. Traffic Class (): Ở một mức độ nào đó, có chức năng tương tự trường ToS của IPv4. Có thể xác định các gói tin thuộc loại nào, rồi có các biện pháp xử lý thích hợp.
Flow Label: Một luồng thông tin là tập hợp các gói tin liên tiếp nhau được gửi đi từ một trạm nguồn tới một hay nhiều trạm đích và người gửi muốn quản lý được các gói tin dọc đường đi (ở router). Trường này được sử dụng để nhận dạng các luồng tin đó. 27 Luận văn cao học ĐTVT 2010B Payload Length: Chỉ số lượng byte dữ liệu kể cả phần tiêu đề. Trường này có độ dài 16 bit, số bytes dữ liệu tối đa của một gói tin là 65.
Tuy nhiên nó có thể tạo ra các gói tin lớn hơn độ dài cho phép. Next Header: Xác định phần tiêu đề theo sau tiêu đề của IPv6 là loại gì. Đơn giản nhất đó là của các giao thức ở các tầng cao hơn. Nhưng nó cũng có thể là một trong những các tiêu đề mở rộng mà IPv6 định nghĩa.
Chính nhờ các tiêu đề mở rộng này mà ở một mức độ nhất định, tiêu đề của IPv6 đơn giản hơn của IPv4. Các trường khác và các chức năng khác trong phần tiêu đề của IPv4 nằm ở phần tiêu đề mở rộng như phân đoạn (Fragment), an toàn (security). Hop limit: Thay cho trường Time to Live ở IPv4. Trường này hạn chế thời gian tồn tại của các gói tin bằng cách qua mỗi trạm thì giá trị của trường này giảm đi 1.
Source & Destination Address: có giá trị là 128 bits.2 Ưu điểm của IPv6 so với IPv4 - Có một không gian địa chỉ lớn hơn (128 bits).