CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG TRUYỀN THÔNG BẰNG ÁNH SÁNG Alexander Graham Bell, vào năm 1880 đã giới thiệu khái niệm sử dụng ánh sáng như một phương tiện truyền thông với sự phát minh của photo phone, một thiết bị được sử dụng để truyền một tín hiệu thoại thông qua một chùm ánh sáng. Bell tập trung ánh sáng mặt trời bằng gương và sau đó sử dụng một cơ chế làm rung gương để truyền tiếng nói của mình đi. Chùm rung được thu thập bởi máy thu ở đầu nhận và giải mã trở lại tín hiệu thoại. Thí nghiệm của Bell gặp phải khó khăn dưới ảnh hưởng của sương mù và mưa và ông đã ngừng thí nghiệm của mình.
Sáng chế ra đèn LED vào năm 1961 đã mang lại khái niệm mới về truyền thông dựa trên ánh sáng trắng phát ra từ đèn LED, gửi dữ liệu bằng ánh sáng nhấp nháy ở tốc độ rất cao và vô hình đối với mắt người. Trong giao tiếp ánh sáng khả kiến, LED được sử dụng như bộ phát và photo điốt được sử dụng như bộ thu. Phổ ánh sáng nhìn thấy được sử dụng như là phương tiện truyền dẫn.1 Khái niệm về hệ thống Visible Light Communication (VLC) Hình 1. Dải bước sóng của ánh sáng nhìn thấy Visible Light Communication - VLC là công nghệ truyền thông không dây bằng cách sử dụng ánh sáng trắng bao gồm nhiều ánh sáng đơn sắc biến thiên liên tục 14 trong dải bước sóng từ 380 nm đến 760 nm tương ứng với một dải tần số từ 400 – 790 THz.
Do ánh sáng nhìn thấy “thân thiện” với con người, công nghệ này ít nguy hại hơn so với công nghệ truyền thông vô tuyến (RF). VLC còn được biết đến với tên gọi khác là Li-fi.2 Lịch sử phát triển của công nghệ truyền thông không dây VLC Ý tưởng truyền tải thông tin bằng ánh sáng nhìn thấy không phải là ý tưởng mới. Từ hàng nghìn năm trước, những ngọn hải đăng đầu tiên là những ngọn tháp nhỏ trên đỉnh có những giỏ kim loại đựng ngọn đuốc đang cháy. Chúng có nhiệm vụ hỗ trợ hoa tiêu cho các con tàu biển định hướng và tìm đường, đồng thời đánh dấu các đường bờ biển hay các bãi cạn nguy hiểm, các lối an toàn vào cảng bằng cách gửi những chùm sáng nhấp nháy theo chu kỳ.
Ngọn hải đăng Hòn Dấu – Đồ Sơn Một cột mốc đánh dấu việc sử dụng ánh sáng nhìn thấy để truyền thông tin sau này thuộc về một nhà khoa học Scotland tên là Alexander Graham Bell, người đã phát minh ra thiết bị Photophone vào ngày 19 tháng 2 năm 1880 tại phòng thí nghiệm 15 ở Washington, DC cùng với cộng sự của ông là Charles Summer Tainer [1]. Thiết bị này truyền thông bằng ánh sáng mặt trời. Tại đầu phát, ánh sáng sẽ được hội tụ qua thấu kính, đến phía ống nói. Sau ống nói sẽ được gắn một gương mảnh, có nhiệm vụ làm thay đổi cường độ của ánh sáng mặt trời chiếu đến theo độ rung của âm thanh khi có người nói vào.
Thông tin sẽ được điều chế và truyền đi bằng sóng ánh sáng tới phía thu. Mô hình thu phát của photophone [1] Tại đầu thu, một pin Selenium được nối với nguồn điện, pin này được đặt ở trung tâm của một gương dạng parabol. Ánh sáng sẽ được tập trung vào pin Selenium và cường độ sáng thay đổi khiến cho điện trở của pin thay đổi tạo ra dòng điện làm thay đồi màng rung của ống nghe, từ đó sẽ phát ra âm thanh [1]. Bằng hệ thống này, họ đã thực hiện việc truyền thông ở khoảng cách 213 mét.
Tuy nhiên do độ nhiễu quá lớn, cộng với sự phụ thuộc quá chặt chẽ vào thời tiết mà cỗ máy này chưa thực sự chiếm được sự quan tâm đúng mức của cộng đồng khoa học lúc bấy giờ. Đến năm 1907, hiện tượng biến đổi dòng điện thành ánh sáng được H. Round phát hiện đầu tiên ở phòng thí nghiệm Marconi. Năm 1961, các nhà thí nghiệm người Mỹ Robert Biard và Gary Pittman, phát hiện GaAs phát ra tia hồng ngoại khi 16 có dòng điện chạy qua và đã phát minh ra LED hồng ngoại.
Các nguồn sáng từ bán dẫn mở ra một cơ hội rất lớn cho việc kết hợp truyền thông và chiếu sáng. LED (viết tắt của Light Emitting Diode, có nghĩa là điốt phát quang) là các điốt có khả năng phát ra ánh sáng hay tia hồng ngoại, tử ngoại. Cũng giống như điốt, LED được cấu tạo từ một khối bán dẫn loại p ghép với một khối bán dẫn loại n. Tới tháng 5/2018, đèn pin LED sáng nhất được ghi nhận là đèn Imalent DX80, với độ chiếu sáng lên đến 32,000 lumen ở chế độ turbo [2].
Lý do chúng ta có thể sử dụng đèn LED trong hệ thống VLC là vì khi có sự thay đổi dòng điện đi qua LED thì độ sáng của đèn LED cũng thay đổi theo, sự thay đổi này diễn ra rất nhanh khiến mắt thường không thể phân biệt được. Khi đó, thông tin được điều chế vào ánh sáng của LED và truyền đi tới bộ thu.3 Công nghệ VLC trong thực tế Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ chiếu sáng sử dụng bán dẫn (solid-state lighting), công nghệ VLC sử dụng LED cho phép truyền tải dữ liệu với tốc độ lên tới hàng Gbps. Vào năm 2015, một nhóm các nhà khoa học đã chứng minh rằng có thể truyền tải thông tin ở tốc độ cao lên đến 1,68 Gb/s ở khoảng cách 3 cm (cường độ chiếu sáng 240 lumen) sử dụng ánh sáng trắng [3]. Bên cạnh những ưu điểm về tốc độ, công nghệ VLC còn mang trong mình những ưu điểm khác, nó cho phép tạo ra những kênh thông tin an toàn trong môi trường văn phòng hoặc tòa nhà.
Với những ưu điểm như : rẻ, bền, đẹp và tiết kiệm điện năng, việc nghiên cứu đặc tính truyền dẫn của đèn LED sẽ tạo ra một cơ sở hạ tầng vừa có tác dụng chiếu sáng, vừa có tác dụng truyền thông tin một cách an toàn và nhanh chóng. Trong thực tế, VLC hiện đang được áp dụng trong một số lĩnh vực như : Hệ thống chiếu sáng thông minh : hệ thống ánh sáng thông minh trong các tòa nhà với công nghệ VLC cung cấp cơ sở hạ tầng nhằm vừa chiếu sáng, vừa điều khiển, vừa truyền thông. Công nghệ VLC trong thực tế [4] Hình 1. Hệ thống chiếu sáng thông minh [5] Ứng dụng môi trường nguy hiểm : ứng dụng trong những khu vực có độ nguy hiểm cao (ví dụ trong các mỏ, nhà máy hóa dầu, …) [6].
Ứng dụng trong giao thông thông minh : Xe ô tô sử dụng các đèn LED để chiếu sáng, đèn giao thông, biến báo và đèn đường cũng sử dụng công nghệ LED nên có 18 rất nhiều ứng dụng đối với công nghệ VLC trong lĩnh vực giao thông, vận tải. Có thể kể đến các cảm biến như cảm biến trước va chạm, phanh điện tử khẩn cấp, cảnh báo thay đổi làn đường, cảnh báo tăng tốc…Do độ trễ cực kỳ thấp, hệ thống truyền ánh sáng tốc độ cao như Li-fi có thể được ứng dụng như hình 1. Ứng dụng VLC trong hệ thống giao thông vận tải [7] Ứng dụng trong truyền thông dưới nước : Sóng điện từ không thể lan truyền tốt trong môi trường nước. Do đó, VLC có thể được sử dụng trong truyền thông dưới nước.7 minh họa quá trình truyền thông của một thiết bị lặn ngầm dưới nước.
Do khoảng cách từ đáy biển tới tàu ở mặt biển quá xa, một kênh truyền thông quang được triển khai từ tàu trên mặt nước xuống đáy biển dựa trên điểm chuyển tiếp [7]. Ứng dụng VLC trong truyền thông dưới nước [7] 19 Một thiết bị sử dụng khác sử dụng công nghệ VLC do công ty Marine Comms Ryukyu sáng chế [8] nhằm giúp các thợ lặn có thể sử dụng giọng nói để nói chuyện với nhau trong môi trường nước có tên gọi là “i-MAJUN”. Thiết bị này có khoảng cách giao tiếp tối đa là 30 mét với độ sáng đèn LED tối đa 1500 lumen. Thiết bị i-MAJUN [8] Hình 1.
Ứng dụng VLC trong lĩnh vực hàng không [9] 20 Ứng dụng trong lĩnh vực hàng không : Vì những lí do an toàn, radio và điện thoại không được ưa chuộng trong khoang hành khách của máy bay. Đèn LED được sử dụng để chiếu sáng cũng có thể sử dụng để truyền dữ liệu, cung cấp các dịch vụ truyền thông cho hành khách. Điều này giúp giảm chi phí chế tạo và trọng lượng của máy bay. Ứng dụng VLC trong bệnh viện Ứng dụng trong bệnh viện và chăm sóc sức khoẻ : Tại bệnh viện, nơi các thiết bị radio không được phép sử dụng vì nhiễu điện từ có thể làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của bệnh nhân, VLC sẽ cung cấp các kênh liên lạc trong bệnh viện.
Bên cạnh đó, công nghệ này còn giúp xây dựng các ứng dụng xác định vị trí (Location-based Service - LBS) để quản lý bệnh nhân trong toà nhà.1 Hệ thống VLC của viện Fraunhofer Viện Fraunhofer Heinrich Hertz (HHI), là một tổ chức của hộ i Fraunhofer có trụ sở tại Berlin chuyên nghiên cứu về viễn thông, có bộ phận mạng quang tử lớn và có một phòng thí nghiệm nghiên cứu mạng quang trong nhà và VLC. Theo như thông tin từ viện [10], hệ thống VLC của viện Fraunhofer có những thông số như sau : 21 Hình 1. Hệ thống kết nối bộ thu và bộ phát của viện Fraunhofer Nguồn sáng : bất kỳ đèn LED công suất cao nào. Trao đổi dữ liệu quang hai chiều.
Tỷ lệ thích ứng rộng. Tốc độ dữ liệu đỉnh 1 Gbit/s. Giao diện Ethernet RJ45 phổ thông. Kích thước : 87 mm x 114 mm x 42 mm (không kể thấu kính).
Thiết bị kết nối LED – Blackhaul Frauhofer 22 Đến với thiết bị Blackhaul Frauhofer, đây là một thiết bị liên kết khác dựa trên giao tiếp ánh sáng. Điều này chỉ dựa trên phổ IR phổ hồng ngoại – (Ifra red) Các tính năng của thiết bị này là : Đèn LED hồng ngoại. Sắp xếp dễ dàng: 500 Mb / giây trên 100 m 250 Mb / giây trên 200 m. Trao đổi dữ liệu hai chiều.
Tỷ lệ thích ứng động. 1 chipset và giao diện GbE. Trọng lượng : 3 Kg. Kích thước : 240 mm x 230 mm x 130 mm.
Thiết bị Li-fi được phát triển bởi Sangikyo Gần đây, dựa trên thiết bị này, nhà cung cấp viễn thông Nhật Bản Sangikyo [11] đã cho ra đời sản phẩm Li-Fi đầu tiên dựa trên công nghệ backhaul LED quang của Fraunhofer HHI. Công ty này đã tung ra sản phẩm Li-Fi đầu tiên mang tên LED Backhaul. Công nghệ cốt lõi ban đầu được giới thiệu như một relay video 4K / 8K tốc độ dữ liệu đạt được từ 100 đến 750 MB/s.