Luận văn: Giải pháp & Công nghệ trao đổi dữ liệu vé máy bay điện tử tại Vietnam Airlines

Luận văn thạc sĩ: Giải pháp và công nghệ trao đổi dữ liệu trong bán vé máy bay điện tử tại Tổng công ty Hàng không Việt Nam. Nghiên cứu chuyên sâu.

Chuyên ngành

Công nghệ thông tin

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2007

105
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỤC LỤC

DANH MỤC VIẾT TẮT

DANH MỤC HÌNH VẼ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BÁN VÉ, VÉ ĐIỆN TỬ TRONG NGÀNH HÀNG KHÔNG

1.1. Công tác quản lý vé trong ngành hàng không [2,5]

1.1.1. Những năm thập kỷ 70

1.1.2. Quản lý vé điện tử trong ngành hàng không

1.1.2.1. Khái niệm vé điện tử [2,4]
1.1.2.2. Khái niệm Bán vé điện tử (Electronic Ticketing) [4]
1.1.2.3. Đối tƣợng sử dụng hệ thống bán vé điện tử
1.1.2.4. Kết luận chƣơng 1

2. CHƢƠNG 2: CÁC KỊCH BẢN CHÍNH CHO BÀI TOÁN ĐẶT CHỖ, BÁN VÉ ĐIỆN TỬ

2.1. Một số khái niệm và qui ƣớc đƣợc sử dụng

2.1.1. “Control” - Kiểm soát vé

2.1.2. Coupon Status - Trạng thái của các liên vé trong vé điện tử

2.1.3. Các qui ƣớc sử dụng trong các biểu đồ và phần giải thích các biểu đồ

2.2. Phát hành vé điện tử - trƣớc 72 tiếng so với giờ khởi hành [4]

2.2.1. Việc trao đổi thông tin

2.2.2. Kết thúc quy trình

2.2.3. Kiểm soát sử dụng liên vé điện tử [4]

2.2.4. Chuyển quyền kiểm soát vé tại sân bay cho hãng khác

2.2.5. Phát hành vé điện tử, chƣa đầy 72 giờ trƣớc giờ khởi hành [4]

2.2.6. Phát hành vé điện tử - hơn 72 tiếng trƣớc giờ khởi hành (Marketing Carrier khác với Operating Carrier)[4]

2.2.7. Phát hành vé điện tử - chƣa đầy 72 tiếng trƣớc giờ khởi hành (Marketing Carrier khác với Operating Carrier) [4]

2.2.8. Xử lý trên mặt đất [4]

2.2.9. Trao đổi thông tin vé điện tử (Trong trƣờng hợp Code-share với Operating Carrier xử lý liên vé điện tử) [4]

2.2.10. Trao đổi thông tin vé điện tử [4]

2.2.11. Hoàn trả vé điện tử [4]

2.2.12. Trao đổi vé điện tử giữa các hãng hàng không [4]

2.2.13. In việc trao đổi vé điện tử của một hãng hàng không [4]

2.2.14. Nhân viên hãng du lịch hoàn trả vé điện tử [4]

2.2.15. Nhân viên hãng du lịch trao đổi vé điện tử [4]

2.2.16. Nhân viên hãng du lịch hủy vé điện tử [4]

3. CHƢƠNG 3: KHÁI NIỆM VỀ EDI VÀ PADIS

3.1. Giới thiệu về EDI [9,10,14]

3.2. Sơ lƣợc lịch sử về EDI [9,10,14]

3.3. Các dịch vụ hỗ trợ EDI

3.4. Các lựa chọn mạng trao đổi dữ liệu khác [9,11,12]

3.5. Sự cần thiết của việc sử dụng EDI [3]

3.6. Giới thiệu chung về PADIS [6,7]

3.7. Cấu trúc một thông điệp trong PADIS [6]

3.8. Kết luận chƣơng 3

4. CHƢƠNG 4: ỨNG DỤNG PADIS TRONG TRAO ĐỔI DỮ LIỆU VÉ ĐIỆN TỬ TẠI VIETNAM AIRLINES

4.1. Nhu cầu trao đổi dữ liệu vé điện tử tại Vietnam Airlines

4.2. Xây dựng nội dung các thông điệp chuẩn cho bài toán bán vé điện tử

4.2.1. Cấu trúc các thông điệp trao đổi dữ liệu sử dụng trong kịch bản 2

4.2.2. Mẫu dữ liệu đƣợc xây dựng cho kịch bản

4.2.3. Kết luận chƣơng 4

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về trao đổi dữ liệu vé máy bay điện tử hiện nay

Sự phát triển của công nghệ thông tin và Internet đã tạo ra những thay đổi lớn trong ngành hàng không, đặc biệt là trong lĩnh vực bán vé máy bay điện tử. Từ việc quản lý vé thủ công đến các hệ thống đặt chỗ trên máy tính (CRS) rồi đến vé điện tử, ngành hàng không đã trải qua một quá trình chuyển đổi mạnh mẽ. Vé điện tử không chỉ giúp giảm chi phí in ấn, quản lý mà còn tạo sự thuận tiện cho hành khách. Các hệ thống như CRS, DCS, GHS, RAS đều có sự tương tác và trao đổi dữ liệu rộng hơn. Mô hình mới cho phép một hãng độc lập quản lý, xuất vé cho nhiều hãng vận chuyển khác nhau, dữ liệu vé được chuyển từ hãng phân phối vé (Marketing Carrier) sang hãng trực tiếp vận chuyển (Operating Carrier). Do đó, việc sử dụng các chuẩn trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) là vô cùng cần thiết. Chuẩn PADIS của IATA (Hiệp hội hàng không quốc tế) được xây dựng riêng cho các hãng thành viên, bao gồm Vietnam Airlines, để đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ riêng của ngành. Dù XML phổ biến, PADIS vẫn là lựa chọn do tồn tại nhiều hệ thống cũ. EDI vé máy bayEDIFACT vé máy bay là các chuẩn quan trọng trong trao đổi thông tin vé máy bay.

1.1. Sự phát triển của hệ thống EDI vé máy bay điện tử

Từ những năm 1970, các hãng hàng không đã bắt đầu xây dựng hệ thống đặt chỗ trên máy tính (CRS). Tuy nhiên, hệ thống này còn đơn giản, chỉ dừng lại ở việc quản lý số lượng ghế và thông tin hành khách qua PNR (Passenger Name Record). Vé được viết bằng tay, việc này rất phức tạp. Từ giữa những năm 1970, SABRE (thuộc American Airlines) và Apollo (United Airlines) bắt đầu triển khai hệ thống đặt chỗ mới cho các đại lý du lịch. Vào những năm 1980, các hệ thống phân phối toàn cầu GDS (Global Distribution System) xuất hiện và được tích hợp với một số hệ thống của nhiều hãng vận chuyển. Ngày nay, các hệ thống API kết nối hệ thống bán vé máy baychuẩn IATA cho vé điện tử ngày càng hoàn thiện giúp việc bán vé và kết nối hệ thống hãng hàng không trở nên dễ dàng hơn. Việc này tiết kiệm thời gian và đảm bảo tính chính xác hơn so với việc viết vé bằng tay.

1.2. Vai trò của chuẩn IATA cho vé điện tử và kết nối GDS

Các hệ thống GDS cho phép đại lý bán vé của nhiều hãng khác nhau, từ đó khách hàng có thể so sánh và lựa chọn. Việc xuất vé và xác định giá vé tự động giúp tiết kiệm thời gian và chi phí đào tạo nhân viên. Theo nghiên cứu từ Luận văn Thạc sĩ của Đỗ Vũ Hoàng (ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ), "Sự tương tác trao đổi dữ liệu giữa các hệ thống trên được mở rộng hơn. Không chỉ trao đổi dữ liệu giữa các hệ thống thuộc cùng một hãng hàng không, vé điện tử ra đời cho phép một mô hình mới ra đời trong ngành hàng không". Các hệ thống Sabre API, Amadeus API, Galileo API đang đóng vai trò then chốt trong việc trao đổi dữ liệu và kết nối GDS giữa các hãng hàng không.

II. Thách thức và vấn đề trong trao đổi dữ liệu vé máy bay

Mặc dù vé máy bay điện tử mang lại nhiều lợi ích, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức trong trao đổi dữ liệu. Việc đảm bảo tính security trong trao đổi dữ liệu vé máy bay là vô cùng quan trọng để tránh gian lận và bảo vệ thông tin cá nhân của hành khách. Các hệ thống cũ được xây dựng vào những năm 1970, 1980, chưa thể thay thế hoàn toàn, đòi hỏi sự tương thích và tích hợp với các hệ thống hiện đại. Các hãng hàng không cần tuân thủ các chuẩn mực quốc tế như tuân thủ PCI DSS trong vé điện tử để đảm bảo an toàn mã hóa dữ liệu vé máy bay . Sự phức tạp của việc kết nối các hệ thống khác nhau đòi hỏi các giải pháp linh hoạt và hiệu quả.

2.1. Bảo mật dữ liệu và tuân thủ PCI DSS trong vé điện tử

Gian lận thương mại là một trong những vấn đề lớn khi sử dụng vé điện tử. Các hãng hàng không cần có chương trình chống thất thu khi đưa vé điện tử vào sử dụng. Cần có các biện pháp bảo vệ như số PIN và nhiều biện pháp khác. Theo Barrie Emmett, một người đứng đầu của cảnh sát chống gian lận vé tại sân bay Heathrow, các hãng hàng không có thể bị thất thoát hàng trăm triệu USD mỗi năm nếu không có các biện pháp phòng ngừa hiệu quả (TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com). Vì vậy việc tuân thủ PCI DSS là hết sức cần thiết.

2.2. Khả năng tương thích giữa các hệ thống cũ và mới trong EDI

Nhiều hệ thống trong ngành hàng không được xây dựng vào những năm 1970, 1980, chưa thể thay thế hoàn toàn. Điều này đòi hỏi các giải pháp EDI phải tương thích và tích hợp được với cả các hệ thống cũ và mới. Việc chuyển đổi sang các chuẩn mới như XML vé máy bayJSON vé máy bay cần được thực hiện dần dần để đảm bảo tính liên tục của hệ thống.

III. Giải pháp trao đổi dữ liệu vé máy bay điện tử hiệu quả nhất

Để giải quyết các thách thức trong trao đổi dữ liệu vé máy bay, cần có các giải pháp hiệu quả. Chuẩn PADIS của IATA vẫn là một lựa chọn tốt do tính đặc thù của ngành hàng không. Việc sử dụng các API kết nối hệ thống bán vé máy bay cũng giúp tăng cường khả năng tương tác giữa các hệ thống. Áp dụng giao thức truyền dữ liệu vé máy bay an toàn để bảo vệ thông tin. Các giải pháp cần đảm bảo tính linh hoạt, khả năng mở rộng và bảo mật cao.

3.1. Sử dụng Chuẩn PADIS và Message format vé điện tử

Theo Luận văn Thạc sĩ của Đỗ Vũ Hoàng, "Trước nhu cầu đó việc sử dụng các chuẩn trao đổi dữ liệu điện tử EDI (Electric Data Interchange) trong trao đổi dữ liệu là hết sức cần thiết. Sự trao đổi dữ liệu này có thể thực hiện theo bộ chuẩn EDIFACT do Liên Hiệp Quốc (UN) đưa ra, hoặc để đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ riêng của ngành hàng không trong trao đổi dữ liệu, Hiệp hội hàng không quốc tế IATA (International Air Transport Association) đã xây dựng chuẩn trao đổi dữ liệu riêng cho các hãng thành viên trong đó có Vietnamairlines đó là PADIS (Passenger and Airport Data Interchange Standards)". Message format vé điện tử cần được chuẩn hóa để đảm bảo tính tương thích và dễ dàng xử lý.

3.2. Ứng dụng API kết nối hệ thống bán vé máy bay và kết nối GDS

Các API kết nối hệ thống bán vé máy bay giúp tăng cường khả năng tương tác giữa các hệ thống. Các hệ thống như Sabre API, Amadeus API, Galileo API cần được tích hợp một cách hiệu quả. Việc sử dụng các API này giúp đơn giản hóa quy trình kết nối GDSkết nối hệ thống hãng hàng không.

IV. Ứng dụng thực tiễn PADIS tại Vietnam Airlines Kết quả

Việc áp dụng chuẩn PADIS trong trao đổi dữ liệu vé điện tử tại Vietnam Airlines là một bước quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động. Theo Luận văn Thạc sĩ của Đỗ Vũ Hoàng (TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com), chương 4 sẽ nghiên cứu tính khả thi của sử dụng chuẩn PADIS trong trao đổi dữ liệu vé điện tử tại Vietnam Airlines. Các kết quả cho thấy việc sử dụng PADIS giúp cải thiện khả năng tương thích giữa các hệ thống, giảm chi phí và tăng cường bảo mật. Tuy nhiên, việc triển khai cần được thực hiện một cách cẩn thận và có kế hoạch.

4.1. Nghiên cứu tính khả thi của PADIS trong trao đổi vé điện tử

Chương 4 luận văn sẽ nghiên cứu tính khả thi của việc sử dụng chuẩn PADIS trong trao đổi dữ liệu vé điện tử tại Vietnam Airlines. Các yếu tố như chi phí, khả năng tương thích và bảo mật cần được xem xét kỹ lưỡng.

4.2. Xây dựng thử nghiệm trao đổi dữ liệu trong hệ thống vé điện tử

Luận văn cũng sẽ xây dựng thử nghiệm việc trao đổi dữ liệu vé điện tử trong bán vé máy bay điện tử tại Vietnam Airlines. Kết quả của thử nghiệm sẽ giúp đánh giá hiệu quả của chuẩn PADIS và đưa ra các khuyến nghị cải tiến.

V. Security trong trao đổi dữ liệu vé và mã hóa dữ liệu vé

Trong bối cảnh các mối đe dọa an ninh mạng ngày càng gia tăng, việc đảm bảo security trong trao đổi dữ liệu vé máy bay trở nên hết sức quan trọng. Các giải pháp bảo mật cần bao gồm mã hóa dữ liệu vé máy bay, kiểm soát truy cập và giám sát liên tục. Việc tuân thủ các tiêu chuẩn an ninh như tuân thủ PCI DSS trong vé điện tử là bắt buộc để bảo vệ thông tin cá nhân của hành khách và ngăn chặn các cuộc tấn công.

5.1. Các phương pháp mã hóa dữ liệu vé máy bay hiệu quả

Việc mã hóa dữ liệu vé máy bay là một trong những biện pháp bảo mật quan trọng nhất. Các phương pháp mã hóa mạnh như AES (Advanced Encryption Standard) cần được sử dụng để bảo vệ thông tin khỏi các cuộc tấn công.

5.2. Kiểm soát truy cập và giám sát liên tục hệ thống EDI

Việc kiểm soát truy cập và giám sát liên tục hệ thống EDI giúp phát hiện và ngăn chặn các truy cập trái phép. Các hệ thống giám sát cần được cấu hình để cảnh báo về các hoạt động đáng ngờ.

VI. Tương lai của trao đổi dữ liệu vé điện tử Công nghệ mới

Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, tương lai của trao đổi dữ liệu vé máy bay điện tử sẽ chứng kiến nhiều thay đổi lớn. Các công nghệ mới như blockchain và trí tuệ nhân tạo (AI) có thể được ứng dụng để cải thiện tính bảo mật và hiệu quả của hệ thống. Các chuẩn mới như XML vé máy bayJSON vé máy bay sẽ dần thay thế các chuẩn cũ. API kết nối hệ thống bán vé máy bay sẽ ngày càng trở nên quan trọng.

6.1. Ứng dụng blockchain trong hệ thống vé điện tử

Công nghệ blockchain có thể được sử dụng để tạo ra một hệ thống vé điện tử an toàn và minh bạch hơn. Blockchain giúp ngăn chặn gian lận và đảm bảo tính toàn vẹn của dữ liệu.

6.2. Sử dụng trí tuệ nhân tạo AI để tối ưu hóa trao đổi dữ liệu

Trí tuệ nhân tạo (AI) có thể được sử dụng để tối ưu hóa trao đổi dữ liệu và phát hiện các hoạt động đáng ngờ. AI giúp tự động hóa các quy trình và cải thiện hiệu quả hoạt động.

24/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ BÁN VÉ, VÉ ĐIỆN TỬ TRONG NGÀNH HÀNG KHÔNG 1.1 Công tác quản lý vé trong ngành hàng không [2,5] Vào thời kỳ đầu của ngành hàng không, số lượng hành khách còn tương đối ít, mỗi chuyến bay và giá vé cho mỗi chuyến bay được quản lý khá chặt chẽ nhưng cũng rất dễ dàng. Chặng bay và giá vé được in sẵn trong một cuốn sổ hướng dẫn, các đại lý du lịch hoặc hành khách có thể tự lập lịch bay sau đó thông báo cho đại diện hãng hàng không bằng điện thoại hoặc điện báo, lúc đó hãng hàng không sẽ ghi nhận sự đặt chỗ và sắp lịch bay thực tế. Cùng với sự phát triển ngày càng lớn của ngành hàng không, nhu cầu quản lý ngày càng nhiều, sự phát triển của các máy tính mainframe cho phép xử lý số lượng giao dịch lớn và các dữ liệu phức tạp một cách nhanh chóng. Điều này đã làm thay đổi về cơ bản đến việc quản lý dữ liệu trong ngành hàng không.

1970’s 1980’s & 90’s The 21st Century Các hệ thống đặt giữ chỗ Mở rộng hệ thống CRS và Hệ thống dịch vụ hành khách mới trên máy tính (CRS - phát triển thêm các hệ trên nền tảng vé điện tử (PSS - Hệ thống cơ bản Computer Reservation thống liên quan khác. Passenger Service Systems) Systems) Không được quản lý Được giám sát, quản lý bởi Được quản lý trực tiếp trong hệ Hành khách các đại lý bán phân phối vé thống bán vé điện tử và các đại lý du lịch Vé đi máy bay Vé viết tay Vé in bằng máy Vé điện tử Cố định, ít loại Nhiều mức giá, cách tính Nhiều mức giá, cách tính giá phức Giá vé giá tương đối phức tạp tạp nhưng đều được làm tự động Hệ thống Quản lý Chưa có Đã xây dựng nhưng đơn lẻ Hình thành được hệ thống hoàn doanh thu không chia sẻ và sử dụng chỉnh, sớm xác định, dự tính được được dữ liệu của các hệ doanh ngay từ khi vé được bán. thống khách hoặc rất ít. Hạng vé 5 26 Không giới hạn Trực tiếp tại hãng vận Qua các đại lý và bước đầu Mạng lưới bán vé hoàn chỉnh với Kênh phân phối chuyển hoặc các đại lý du bán vé qua các đại lý bán rất nhiều kênh phân phối khác lịch vé qua các Website nhau.

Sự hợp tác Interline Codeshare Liên minh toàn cầu Sự phát triển Chậm phát triển Phát triển nhanh hơn Phát triển với tốc độ lan rộng của WEB 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1 Những năm thập kỷ 70 Từ giữa những năm 60 đến những năm thập kỷ 70 các hãng hàng không đã bắt đầu xây dựng các hệ thống đặt giữ chỗ trên máy tính (CRS - Computerized Reservations Systems) để quản lý hành khách đi máy bay. Tuy nhiên khi đó hệ thống hết sức đơn giản, chỉ dừng lại ở việc quản lý số lượng ghế trên mỗi chuyến bay, hành khách trên máy bay qua các PNR (Passenger Name Record). Khi đó chưa có các hệ thống xuất vé tự động. Vé được viết bằng tay theo những qui định hết sức phức tạp.

Để có thể viết được đúng chính xác các thông tin trên vé máy bay nhân viên tại các đại lý bán vé phải theo học những lớp học về cách viết thông tin lên vé. Các qui tắc viết vé đã phức tạp nhưng các qui tắc và cách thức để điều chỉnh giá vé cho các hạng ghế khác nhau còn phức tạp hơn rất nhiều. Các lớp học về cách viết vé, xác định giá vé và điều chỉnh giá vé khi đó bắt buộc phải do IATA đào tạo và cấp chứng chỉ. Việc đào tạo này tiêu tốn một khoản chi phí khá lớn do đó các hãng hàng không thường phải có những hợp đồng thoả thuận hết sức chặt chẽ với nhân viên bán vé nhằm tránh việc nhân viên chuyển việc sang những hãng khác và phải đào tạo lại nhân viên mới.

Hệ thống đặt giữ chỗ trong ngành hàng không vào những năm 1970 là những hệ thống với giao diện “TEXT”, các giao dịch được thực hiện bằng cách đưa vào các chuỗi ký tự lệnh. Các ký tự đều phải được viết hoa. Giao diện hệ thống không được trực quan do đó để một nhân viên sử dụng được hệ thống cần đào tạo rất nhiều.2 Những năm 1980 đến 1990 Từ giữa những năm 1970 SABRE (thuộc American Airlines) và Apollo (United Airlines) bắt đầu triển khai hệ thống đặt giữ chỗ mới của họ cho các đại lý du lịch nhằm mở rộng thị trường. Vào những năm 80 đã có sự thay đổi lớn trong ngành công nghiệp hàng không với sự xuất hiện của các hệ thống phân 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phối toàn cầu GDS (Global Distribution System).

Các hệ thống GDS được tích hợp với một số hệ thống của nhiều hãng vận chuyển và được sử dụng tại các đại lý bán vé. Qua máy tính đã được cài sẵn một phần mềm cho phép họ truy cập vào cơ sở dữ liệu kho vé của các hãng vận chuyển mà họ làm đại lý và lấy thông tin về các vé chưa được sử dụng để bán trực tiếp cho khách hàng. Mỗi đại lý có thể bán vé cho nhiều hãng khác nhau do đó khách hàng có thể yêu cầu cung cấp thông tin về vé giữa các hãng từ đó lựa chọn được sử dụng dịch vụ của hãng mà họ thấy thích hợp nhất. Việc xuất vé và xác định giá vé đã được làm tự động, ngoài việc tiết kiệm thời gian, đảm bảo chính xác hơn giữa việc viết vé bằng tay và xuất vé tự động.

Việc xuất vé, tính giá tự động cũng giúp giảm được thời gian và chi phí cho việc đào tạo nhân viên bán vé của các hãng hàng không. Các hệ thống GDS bước đầu triển khai sử dụng việc xuất vé tự động cho các đại lý bán vé. Việc xuất vé và tính giá tự động này cũng giúp cho công việc quản lý sau bán vé của hãng hàng không hiệu quả hơn. Chẳng hạn như đối với hệ thống quản lý doanh thu (RAS) vé xuất tự động bằng máy dễ đọc hơn giúp cho việc cung cấp các thông tin cho hệ thống quản lý doanh thu được nhanh hơn và chính xác hơn.

Thời gian này một loại thẻ dùng làm vé máy bay và thẻ lên tàu sử dụng công nghệ thẻ thông minh cũng đã được đưa ra (ATB - Automated Ticket/Boarding Pass). Tuy vậy máy in và đọc thẻ ATB có giá thành cao, nhưng dù sao đây là nền tảng cho việc nghiên cứu và áp dụng các phương thức sử dụng vé điện tử hiệu quả sau này.3 Thế kỷ 21 Bước sang thế kỷ 21 vé điện tử ra đời, nhiều Hãng hàng không trên thế giới đã áp dụng phương thức vé điện tử trong kinh doanh. Nhằm giải quyết các vấn đề hành chính đối với vé điện tử của hành khách, các tổ chức Hàng không Mỹ, tổ chức IATA đã phối hợp nghiên cứu đưa ra cách giải quyết các vấn đề xung 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quanh vé điện tử, đồng thời đưa ra các chuẩn công nghiệp của vé máy bay. Thế kỷ 21 được đánh dấu bởi sự phát triển nổi bật của PSS (Passenger Services Systems) - các hệ thống dịch vụ hành khách.

PSS là hệ thống tích hợp nhiều hệ thống của ngành hàng không như  Quản lý kho vé  Đặt chỗ trực tiếp  Quản lý làm thủ tục lên máy bay.  Quản lý các dịch vụ phục vụ hành lý  Quản lý các dịch vụ phục vụ hành khách  Quản lý vận chuyển hành khách  Quản lý các dịch vụ khác Thời gian này khái niệm Nhà cung cấp dịch vụ đặt chỗ điện tử (ERSP - E- Reservation Service Provider) trên mạng Internet đã ra đời. Các ERSP có thể truy nhập vào hệ thống CRS của một đại lý, của một Hãng vận chuyển hàng không và tiến hành đặt chỗ trên hệ thống CRS. Hành khách sử dụng dịch vụ của ERSP qua Web Site của ERSP cho phép hành khách dễ dàng lên kế hoạch cho hành trình của mình thoả mãn các yêu cầu của mình như các tiện nghi của chuyến đi, giá vé.

Mô hình bán vé qua GDS kiểu cũ được thay đổi bằng một mô hình mới phức tạp nhiều kênh phân phối hơn đồng thời còn giảm bớt chi phí cho các hãng hàng không trong việc phân phối vé. Số lượng ngày càng lớn khách hàng mua vé trực tiếp trên mạng Internet bằng thẻ ghi có (credit card) đã góp phần giảm bớt chi phí phải trả cho các đại lý bán vé và chi phí do đã tiếp thị sản phẩm, dịch vụ trực tiếp đến với khách hàng. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Mô hình cũ Mô hình các kênh phân phối mới  Các đại lý bán vé Các hãng hàng CRS của hãng Hệ thống PSS  Các đại lý du lịch không liên doanh hàng không  Kho vé bán vé theo tour  Đặt chỗ trực tiếp Các đối tác khác  Làm thủ tục lên MB  Các dịch vụ khác Các nhà cung cấp GDS GDS dịch vụ khác Đại lý bán vé Các đại lý bán Khách hàng Các công ty liên vé trên mạng trực tiếp doanh Hình 1. Sự thay đổi của mô hình các kênh phân phối vé 1.2 Quản lý vé điện tử trong ngành hàng không 1.1 Khái niệm vé điện tử [2,4] Việc phát triển kinh doanh điện tử (E-Business) được hình thành vào cuối thập kỷ 80 và phát triển mạnh vào thập kỷ 90 đặc biệt khi mạng Internet được mở rộng và phát triển.

Từ những mẫu trao đổi điện văn điện tử Fax, EDI, EDIFACT, đến thư tín điện tử E-mail, thanh toán điện tử E-payment., đều là các hình thức trao đổi số liệu thông qua các mạng Internet, Intranet. Ngày nay người ta thường nói về ứng dụng Internet vào sản xuất kinh doanh ở quy mô lớn và rất lớn, vậy quy mô và mức độ lớn thế nào? Điều này cần được đánh giá cho đúng và trả lời câu hỏi trên. Còn số khác lại nói rằng Internet thực sự là một cuộc cách mạng. Theo đánh giá của Airlines Business công bố tại hội nghị “Sự tác động của Internet trong phân phối sản phẩm Hàng không tại St Paul De Vence - Pháp ngày 11 - 14/10 /1999 đã tổng kết, mỗi ngày tại Mỹ có thêm hàng chục nghìn người mở tài khoản Internet, trong đó ngành hàng không chiếm 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10% vào các mục đích khác nhau như để quảng cáo, công bố chính sách, dịch vụ và bán sản phẩm.

Trong số 10% thuộc lĩnh vực hàng không, có 41% sử dụng để mua bán vé máy bay thông qua các Web Site.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ