CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Rủi ro tín dụng. Khái niệm về rủi ro tín dụng. Trên thực tế có khá nhiều định nghĩa khác nhau về RRTD.
Theo Ủy ban Basel “ RRTD là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác của NH không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận”. Theo Hennie van Greuning & Sonja Brajovic Bratanovic cho rằng “RRTD trong hoạt động cho vay của NHTM được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng. Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và gây ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của NH”. Tại Việt Nam, theo thông tư 11/2021/TT-NHNN, ngày 30/07/2021 Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh NH nước ngoài, định nghĩa “RRTD trong hoạt động NH là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của Tổ chức tín dụng, chi nhánh NH nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Mặc dù có khá nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm RRTD nhưng trong phạm vi Khóa luận này, tác giả sử dụng định nghĩa “RRTD là những tổn thất tiềm tàng có thể xảy ra do khách hàng không có hoặc không đủ khả năng thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết một cách đầy đủ và đúng hạn, từ đó có thể gây ra sự khác nhau giữa thu nhập thực tế và thu nhập theo kỳ vọng của NH, làm giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường vốn. Phân loại rủi ro tín dụng. Do đặc thù NH là một tổ chức kinh doanh tiền tệ và cung ứng các dịch vụ NH theo luật các Tổ chức tín dụng nên tính chất hoạt động và rủi ro có những khác biệt so với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khác. Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, RRTD được phân loại như sau: Rủi ro tín dụng Rủi ro Rủi ro giao dịch danh mục Rủi ro lựa Rủi ro Rủi ro Rủi ro nội Rủi ro tập chọn đảm bảo nghiệp vụ tại trung Sơ đồ 1.1: Phân loại rủi ro tín dụng Rủi ro giao dịch: là hình thức RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch, đánh giá khách hàng và xét duyệt cho vay.
Rủi ro 8 giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ. Rủi ro lựa chọn: liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích khách hàng trong quá trình NH lựa chọn những phương án phù hợp và hiệu quả để cho vay. Rủi ro đảm bảo: phát sinh từ những tiêu chuẩn bảo đảm như điều kiện về tài sản bảo đảm, chủ sở hữu tài sản bảo đảm, cách thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm và giá trị cho vay dựa trên tài sản bảo đảm. Rủi ro nghiệp vụ: là công tác liên quan đến quá trình quản lý khoản vay và hoạt động cho vay như hệ thống xếp hạng tín dụng, phương pháp và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề.
Rủi do danh mục: là hình thức RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của NH, được chia làm 2 loại là rủi ro nội tại và rủi ro tập trung Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt trong chủ thể mỗi khách hàng đi vay hoặc ngành nghề, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ những đặc điểm hoạt động, đặc điểm sử dụng vốn của mỗi khách hàng. Rủi ro tập trung: là trường hợp NH tập trung vốn cho vay vào một số khách hàng, doanh nghiệp hoạt động trong cùng một lĩnh vực, ngành nghề kinh tế hoặc trong vùng địa lý nhất định có rủi ro cao. Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng.
Việc nhận diện được nguyên nhân gây ra RRTD giúp NH chủ động hơn trong công tác phòng ngừa và quản trị rủi ro. Nguyên nhân dẫn đến RRTD bao gồm: Nguyên nhân khách quan. Môi trường chính trị - pháp luật: Mỗi quốc gia đều tồn tại và phát triển gắn liền với một thể chế chính trị nhất định, nền kinh tế là minh chứng rõ rệt cho thấy sự tác động của thể chế chính trị lên toàn bộ hoạt động của xã hội. Kinh doanh trong một môi trường chính trị ổn định là điều kiện tiên quyết cần thiết dành cho sự thành công của doanh nghiệp.
Môi trường pháp lý lành mạnh, ổn định cũng là một trong những cơ sở quan trọng giúp các doanh nghiệp yên tâm phát triển. Sự bất ổn, chồng chéo, 9 lỏng lẻo của các quy định, văn bản pháp luật là một nguyên nhân gây gia tăng rủi ro. Bên cạnh đó, sự sơ hở, thiếu tính chặt chẽ của các văn bản pháp luật sẽ tạo điều kiện để một bộ phận lợi dụng trục lợi, gây tổn thất cho doanh nghiệp và thiệt hại cả nền kinh tế nói chung. Môi trường kinh tế: Thông thường các doanh nghiệp luôn dựa vào môi trường kinh tế để đưa ra các quyết định kinh doanh và chiến lược đầu tư.
Vì vậy, môi trường kinh tế không những có ý nghĩa đối với doanh nghiệp mà còn đối với NH cho vay. Các yếu tố thuộc môi trường kinh tế tác động đến khả năng trả nợ của khách hàng bao gồm: tính chu kỳ của nền kinh tế, các biến số kinh tế vĩ mô như lãi suất, lạm phát, tỷ giá. Các chính sách của chính phủ như tiền lương, đầu tư công, các hướng ưu tiên đầu tư, miễn giảm thuế, trợ cấp, triển vọng kinh tế như mức gia tăng GDP, tỷ lệ thất nghiệp. Nguyên nhân từ yếu tố bất khả kháng: Thiệt hại do thiên tai, bão lũ, dịch bệnh.
rất khó lường trước và có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng cho NH. Khi thiên tai, dịch bệnh xảy ra, khách hàng cùng NH cho vay sẽ có nguy cơ tổn thất lớn, phương án, dự án kinh doanh không có nguồn thu. Nguyên nhân từ phía khách hàng. Sau khi vay vốn, khách hàng tự ý thay đổi mục đích sử dụng vốn, sử dụng vào các hoạt động không nằm trong phương án mà NH đã xét duyệt, rủi ro cao, dẫn đến thua lỗ không trả nợ được cho NH, gây ra tổn thất lớn cho NH, mất uy tín của cán bộ tín dụng do không kiểm soát sát sao quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng.
Năng lực quản lý kinh doanh yếu kém, khả năng tổ chức điều hành sản xuất kinh doanh không bắt kịp thay đổi của thị trường. Sức ì lớn trong sản xuất kinh doanh, thiếu vắng sự linh hoạt cần thiết, không cải tiến quy trình công nghệ, không đầu tư vào máy móc thiết bị hiện đại, không cải tiến mẫu mã và nâng cao chất lượng sản phẩm. Các nguyên nhân này dẫn tới hàng hóa sản xuất ra thiếu sự cạnh tranh, bị ứ đọng trong kho không tiêu thụ được, không tạo được doanh thu, dòng tiền để hoàn trả nợ vay cho NH. Doanh nghiệp chủ ý lừa đảo, chiếm dụng vốn của NH, làm giả hồ sơ, giấy tờ, 10 con dấu, nhất là giấy tờ TSBĐ và tư cách pháp nhân.
Nguyên nhân từ phía Ngân hàng. Chính sách tín dụng của NH không hiệu quả, không phù hợp với nền kinh tế, quy chế tín dụng không chặt chẽ để khách hàng lợi dụng chiếm đoạt vốn của NH. NH gặp vấn đề trong thẩm định tín dụng như không đánh giá đầy đủ, chính xác khách hàng trước khi cho vay. Những đánh giá sai lầm của NH về khách hàng có thể dẫn đến những quyết định sai lầm, tín dụng được cấp cho những khách hàng có khả năng trả nợ kém.
NH không kiểm tra, giám sát chặt chẽ về việc sử dụng vốn vay và tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng. Các NH thường có thói quen tập trung nhiều công sức hơn cho vấn đề thẩm định trước khi cho vay mà lơi lỏng quá trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn say khi cho vay. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ yếu kém, dẫn đến việc đánh giá phương án sản xuất kinh doanh, dự án không chính xác, gây ra tính trạng dự án không khả thi mà vẫn cấp tín dụng. Cán bộ tín dụng thiếu tinh thần trách nhiệm, vi phạm đạo đức nghề nghiệp như thông đồng với khách hàng lập hồ sơ giả để vay vốn hay nâng giá trị tài sản bảo đảm.
Công tác kiểm tra nội bộ lỏng lẻo, không được tiến hành thường xuyên dẫn đến NH không nhận biết sớm những sai sót của cán bộ quản lý tín dụng tại cấp do lợi ích cá nhân hay trình độ non kém, khiến NH phải đối mặt với những tổn thất lớn. Nguyên nhân từ phía bảo đảm tín dụng. TSBĐ là tài sản thuộc sở hữu của người vay vốn hoặc bên thứ ba dùng để thế chấp, cầm cố cho NH nhằm hạn chế rủi ro cho NH và nâng cao tinh thần trách nhiệm trả nợ cho khách hàng. Trong trường hợp, khách hàng không còn khả năng thanh toán thì TSBĐ sẽ được coi là nguồn trả nợ thứ hai.
Tuy nhiên, TSBĐ lại có một số rào cản gây khó khăn cho NH trong việc xử lý như: giá cả bị biến động theo giá cả thị trường, tính khả mại thấp, tranh chấp về mặt pháp lý. Hậu quả của rủi ro tín dụng. 11 Rủi ro tín dụng xảy ra sẽ gây ảnh hưởng đến rất nhiều chủ thể trong nền kinh tế. Đối với Ngân hàng: RRTD làm lợi nhuận của NH bị giảm sút.
RRTD ngoài việc gây ra những khoản nợ khó đòi còn phát sinh thêm các chi phí trích lập sự phòng rủi ro, giám sát, thu nợ. Thực tế, NH khó có thể thu hồi đầy đủ gốc và lãi của món nợ này. Trong khi đó, hàng tháng NH vẫn phải trả lãi cho các khoản tiền gửi. Vì vậy, những khoản nợ khó đòi không những không sinh được lãi và quay vòng cho khách hàng khác vay mà còn có nguy cơ bị hao hụt hoặc không thể thu hồi khiến lợi nhuận của NH giảm đáng kể.
RRTD gây ra rủi ro thanh khoản, thậm chí là nguy cơ phá sản của NH. Thực tế, các khoản gửi tiết kiệm của khách hàng vẫn phải thanh toán đúng kỳ hạn trong khi các khoản tiền vay của khách hàng lại không được hoàn trả đúng hạn.