Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MARKETING 1. Khái niệm marketing “Marketing là quá trình làm việc với thị trường để thực hiện trao đổi nhằm thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn của con người. Cũng có thể hiểu, Marketing là một dạng hoạt động của con người (bao gồm cả tổ chức) nhằm thỏa mãn các nhu cầu và mong muốn thông qua trao đổi” (Ngô Minh Đạo, 2009). Marketing hiện đại thường sử dụng thuật ngữ Marketing mix (Marketing hỗn hợp), khái niệm được khởi xướng bởi giáo sư Neil Borden vào thập niên 1950 là tập hợp các công cụ tiếp thị được ngân hàng sử dụng theo một tỷ lệ nhất định để đạt được trọng tâm tiếp thị trong thị trường mục tiêu.
Jerome McCathy một nhà tiếp thị nổi tiếng đã kế thừa và phân loại hoạt động marketing vào bốn nhóm hoạt động cơ bản bao gồm: Product, pricing, placement và promotion. Khái niệm marketing dịch vụ “Marketing dịch vụ là sự thích nghi lý thuyết hệ thống vào thị trường dịch vụ, bao gồm quá trình thu nhận, tìm hiểu, đánh giá và thỏa mãn nhu cầu của thị trường mục tiêu bằng hệ thống các chính sách, các biện pháp tác động vào toàn bộ quá trình tổ chức sản xuất cung ứng và tiêu dùng dịch vụ thông qua phân phối các nguồn lực của tổ chức. Marketing được duy trì trong sự năng động qua lại giữa sản phẩm dịch vụ với nhu cầu của người tiêu dùng và những hoạt động của đối thủ cạnh tranh trên nền tảng cân bằng lợi ích giữa doanh nghiệp, người tiêu dùng và xã hội” (Lưu Văn Nghiêm, 2008). Marketing hỗn hợp được định nghĩa như là sự kiểm soát một hệ thống các yếu tố nhằm thỏa mãn hoặc tiếp xúc với khách hàng.
Marketing dịch vụ thường nhiều thành phần hơn so với marketing hàng hóa. Ngoài 4 thành phần căn bản (4P) của marketing hàng hóa là sản phẩm (product), giá cả (price), xúc tiến (promotion) và phân phối (place), marketing dịch vụ còn bổ sung thêm 3 thành phần nữa là Con người (people), quy trình (process) và hạ tầng kỹ thuật (physical evidence). Khái niệm marketing ngân hàng: Marketing ngân hàng là một hệ thống tổ chức quản lý của một ngân hàng để đạt được mục tiêu thỏa mãn tối đa các nhu cầu về vốn cũng như các sản phẩm dịch vụ khác của ngân hàng đối với một hay nhiều nhóm khách hàng mục tiêu đã được lựa chọn thông qua các chính sách nhằm hướng tới mục tiêu cuối cùng và cao nhất là tối đa hóa lợi nhuận (Nguyễn Thị Minh Hiền, 2007). Marketing ngân hàng được xem là một hướng chuyên sâu của việc ứng dụng các nguyên tắc marketing vào hoạt động của một lĩnh vực có tính đặc thù, hướng đến việc tìm hiểu nhu cầu của khách hàng về lĩnh vực tài chính, cách thức khách hàng lựa chọn, quyết định và sử dụng các sản phẩm do ngân hàng cung cấp.
Các thành phần của marketing ngân hàng 1. Sản phẩm dịch vụ: là tập hợp hoạt động bao gồm các nhân tố hữu hình và vô hình, tạo ra chuỗi giá trị và mang lại lợi ích tổng thể. Trong dịch vụ thường phân ra hai mức là dịch vụ cốt lõi (dịch vụ cơ bản) và các dịch vụ bao quanh. - Dịch vụ cơ bản là dịch vụ chính, quyết định hệ thống dịch vụ của doanh nghiệp, thỏa mãn một loại nhu cầu nhất định vì mang lại một loại giá trị lợi ích cụ thể giúp khách hàng phân biệt dịch vụ này với dịch vụ khác.
- Dịch vụ bao quanh là những dịch vụ phụ, thứ sinh, tạo ra những giá trị phụ thêm cho khách hàng, giúp khách hàng có sự cảm nhận tốt hơn về dịch vụ cơ bản. Việc chú trọng vào dịch vụ bao quanh sẽ tạo ra sự khác biệt so với dịch vụ cạnh tranh. Sản phẩm dịch vụ ngân hàng: là tập hợp những đặc điểm, tính cách, công cụ do ngân hàng tạo ra nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn nhất định của khách hàng trên thị trường tài chính.Ngân hàng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng bằng những dịch vụ: cho vay, tiền gởi ký thác, chuyển tiền, thanh toán, tư vấn, Đại lý chứng khoán, cho thuê két sắt, gởi tiền qua đêm, thương mại quốc tế, dịch vụ thẻ, ngân hàng điện tử…. Giá dịch vụ giúp doanh nghiệp giành lợi thế cạnh tranh trên thị trường, tác động tới sự nhận biết dịch vụ của người tiêu dùng.
Giá của sản phẩm dịch vụ ngân hàng là số tiền mà khách hàng phải trả để được quyền sử dụng một khoản tiền trong một thời gian nhất định hoặc sử dụng SPDV vụ do ngân hàng cung cấp.Hình thức thể hiện giá SPDV ngân hàng gồm: - Lãi: Tiền gởi và tiền vay. - Phí: Tiền khách hàng phải trả khi sử dụng dịch vụ của ngân hang. - Hoa hồng: Khách hàng phải trả khi ngân hàng thực hiện dịch vụ, nghiệp vụ môi giới (môi giới bất động sản, chứng khoán …) 1. Kênh phân phối: có vai trò giúp hàng hóa, dịch vụ được lưu thông từ các nhà sản xuất đến người tiêu dùng, nhờ đó mà khắc phục được những ngăn cách dài về thời gian và không gian, địa điểm và quyền sở hữu giữa hàng hóa và dịch vụ với những người muốn sử dụng chúng.
Kênh phân phối dịch vụ thường là những kênh ngắn, kênh trực tiếp. Thành viên trong kênh phân phối gồm: người cung ứng dịch vụ, các trung gian (văn phòng, chi nhánh hay đại lý) và người tiêu dùng. Các hình thức kênh phân phối: - Kênh phân phối trực tiếp: bán thẳng SPDV cho người tiêu dùng cuối cùng mà không qua trung gian, gồm có hai loại là kênh phân phối tại doanh nghiệp và kênh phân phối tới tận nhà khách hàng. - Kênh phân phối gián tiếp: là kênh doanh nghiệp bán SPDV của mình cho người tiêu dùng cuối cùng qua một hay một số khâu trung gian.
- Kênh phân phối hỗn hợp: sử dụng đồng thời cả phân phối trực tiếp và gián tiếp. 7 Kênh phân phối ngân hàng là tập hợp các yếu tố bao gồm: tổ chức, cá nhân và các phương tiện tham gia trực tiếp vào quá trình đưa SPDV của ngân hàng đến với khách hàng. Hệ thống phân phối của ngân hàng được thực hiện trên phạm vi rộng, phong phú và đa dạng do phải phân phối trực tiếp. Kênh phân phối của ngân hàng chủ yếu là phân phối trực tiếp xuất phát từ đặc điểm vô hình, không lưu trữ, không tách rời của dịch vụ, phân phối gián tiếp chiếm tỷ trọng rất nhỏ.
- Kênh phân phối truyền thống: trực tiếp đưa sản phẩm dịch vụ của ngân hàng đến khách hàng dựa trên đội ngũ cán bộ nhân viên, bao gồm: • Chi nhánh: là loại kênh truyền thống mà khách hàng đến giao dịch trực tiếptại các trụ sở, phòng giao dịch. Các ngân hàng thường phát triển mạng lưới kênh phân phối này để có thể bán được nhiều SPDV do: Tính ổn định cao; Dễ thu hút và thỏa mãn nhu cầu cụ thể của khách hàng. Tuy nhiên chi nhánh có nhược điểm: thụ động vì phải kêu gọi khách hàng đến giao dịch, chi phí đầu tư lớn, đòi hỏi lực lượng nhân viên đông đảo và đội ngũ lí cán bộ quản lí tốt, hạn chế không gian và thời gian. • Ngân hàng đại lí: là hình thức các ngân hàng nhỏchưa có chi nhánh do chưa được phép, chưa đủ điều kiện thành lập hoặc nếu mở chi nhánh thì hiệu quả không cao, sẽ thông qua một ngân hàng có trụ sở tại điểm kinh doanh làm đại lí hưởng hoa hồng.
Đây là một kênh phân phối có xu thế phát triển với ưu điểm là chi phí thấp. Tuy nhiên nhược điểm là: Không được chủ động cung cấp SPDV; Không được trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, dễ ảnh hưởng đến hình ảnh và dấu ấn của ngân hàng. - Kênh phân phối hiện đại: là kênh phân phối ứng dụng các thành tựu công nghệ thông tin nhằm bổ sung chức năng cho chi nhánh, tạo những phương thức phân phối mới thay thế hoặc hoàn thiện hệ thống phân phối truyền thống. Hình thức kinh doanh hiện đại giúp ngân hàng tăng khả năng cạnh tranh và gia nhập vào nền tài chính toán cầu.
Hệ thống ngân hàng hiện đại bao gồm 4 kênh cơ bản sau: Chi nhánh tự động hoàn toàn, Chi nhánh ít nhân viên, Ngân hàng điện tử, Ngân hàng qua mạng. 8 Các quyết định phân phối: để có được hệ thống phân phối hiệu quả, doanh nghiệp phải căn cứ vào dịch vụ cụ thể của mình cung ứng, đồng thời căn cứ vào yêu cầu thực tế mà thị trường đòi hỏi. Một số vấn đề cần phải chú ý gồm: - Lựa chọn kiểu loại kênh phân phối thích hợp. - Số lượng trung gian và tổ chức trung gian.
- Điều kiện hạ tầng. - Sự phân bổ của các chức năng giá trị gia tăng theo các thành viên. - Quyết định về sự liên kết các thành viên trong kênh. - Hình thành hệ thống kênh cho các dịch vụ của doanh nghiệp.
Chính sách phân phối dịch vụ ngân hàng: bao gồm các mục tiêu:Mở rộng thị trường; Tăng doanh số và lợi nhuận; Nâng khả năng cạnh tranh; Hạ thấp chi phí. Lựa chọn kênh phân phối: Các ngân hàng có thể lựa chọn 1 hoặc nhiều kênh phân phối khác nhau, hoặc kết hợp hệ thống kênh phân phối truyền thống và hiện đại để tối ưu hóa hoạt động phân phối của mình. Xúc tiến hỗn hợp (Promotion) Xúc tiến hỗn hợp là sự kết hợp những công cụ truyền thông khác nhau để cung cấp những thông tin về hàng hoá dịch vụ, về doanh nghiệp tới khách hàng tiềm năng. Xúc tiến hỗn hợp trong ngân hàng là một công cụ quan trọng của marketing để tác động vào thị trường.
Là tập hợp các hoạt động nhằm khuyến khích việc sử dụng SPDV, làm tăng mức độ trung thành của khách hàng hiện tại, thu hút khách hàng tương lai, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tham gia vào quá trình cung ứng dịch vụ, qua đó làm tăng uy tín hình ảnh của ngân hàng trên thị trường Các ngân hàng thường sử dụng bốn công cụ truyền thông cơ bản sau: Quảng cáo: Là hình thức giới thiệu một cách gián tiếp và đề cao những ý tưởng, sản phẩm được thực hiện theo yêu cầu của chủ thể quảng cáo và chủ thể này phải trả tiền. Thực hiện qua truyền hình, truyền thanh, báo chí, phim ảnh, tờ rơi, poster, quảng cáo ngoài trời… Giao dịch cá nhân: là những giao dịch trực tiếp được thực hiện giữa nhân viên ngân hàng và khách hàng trực tiếp hay điện thoại…Giao dịch tốt sẽ mang lại lợi ích cho khách hàng và ngân hàng, giao dịch cần đảm báo các mục tiêu sau: 9 - Nâng cao uy tín và hình ảnh ngân hàng. - Làm cho khách hàng hiện tại chấp nhận những sản phẩm dịch vụ mới.