Chương 1: Cơ sở lý luận về marketing ngân hàng; Chương 2: Thực trạng hoạt động marketing tại Ngân hàng Thương mại Cổ ph n Công thương Việt Nam chi nhánh TP.HCM; Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động marketing tại Ngân hàng Thương mại Cổ ph n Công thương Việt Nam chi nhánh TP. 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MARKETING NGÂN HÀNG 1 1 Tổng quan về marketing và marketing ngân hàng 1 1 1 Kh i niệm chung về marketing và marketing ngân hàng 1. Khái niệm về marketing Marketing là một khái niệm rộng lớn, có rất nhiều khái niệm khác nhau về Marketing nhưng lại không có một khái niệm chung thống nhất vì Marketing luôn vận động và phát triển với nhiều nội dung phong phú, mỗi tác giả đều có quan niệm riêng về Marketing. “Marketing là một quá trình lập ra kế hoạch và thực hiện các chính sách sản phẩm, giá, phân phối, xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh của hàng hoá, ý tưởng hay dịch vụ để tiến hành hoạt động trao đổi nhằm thoả mãn mục đích của các tổ chức và cá nhân” (theo Hiệp hội Marketing Mỹ, 1985).
“Marketing là tiến trình qua đó cá nhân và tổ chức có thể đạt được nhu c u và ước muốn thông qua việc sáng tạo, trao đổi sản phẩm và giá trị giữa các bên”(Philip Kotler, 1994). “Marketing là quá trình thực hiện các hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức thông qua việc đoán trước các nhu c u của khách hàng hoặc người tiêu thụ để điều khiển các dòng hàng hóa dịch vụ thoả mãn các nhu c u từ nhà sản xuất tới các khách hàng hoặc người tiêu thụ” (McCarthy, 1998). Tóm lại, nhấn mạnh t m quan trọng trong việc lấy khách hàng làm trung tâm và coi đó là động lực của mọi hoạt động marketing của doanh nghiệp, đây chính là khái niệm về marketing.Việc ứng dụng marketing để mang lại sự hài lòng cho khách hàng chính là chìa khóa của sự thành công. Marketing ngân hàng.
Marketing ngân hàng là loại hình marketing dịch vụ. Theo Philip Kotler “Dịch vụ là bất kỳ biện pháp hay lợi ích nào mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, và chủ yếu là không thể sờ thấy được, và không dẫn đến một sự chiếm hữu một 5 cái gì đó. Việc thực hiện dịch vụ có thể có và có thể không liên quan đến hàng hóa dưới dạng vật chất của nó”. Theo Trương Quang Thông (2012, trang 16), chúng ta có thể xem marketing ngân hàng “là các tiến trình hoạch định, tổ chức và thực hiện một cách có hệ thống các hoạt động tìm hiểu, phát hiện và thỏa mãn các nhu c u của các khách hàng mục tiêu, thông qua các chính sách, giải pháp phù hợp với các mục tiêu chiến lược kinh doanh chung của ngân hàng, nhằm cung ứng cho khách hàng những giá trị vượt trội hơn so với dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh”.
Marketing ngân hàng không coi lợi nhuận là mục tiêu hàng đ u và duy nhất, mà cho rằng lợi nhuận là mục tiêu cuối cùng và là thước đo trình độ marketing của mỗi ngân hàng. 1 1 2 Chức năng c a marketing ngân hàng Chức năng thích ứng: Marketing ngân hàng làm cho sản phẩm dịch vụ ngân hàng trở nên hấp dẫn, khác biệt, thích ứng với nhu c u của thị trường, đem lại nhiều tiện ích, lợi ích, đáp ứng nhu c u đa dạng, đổi mới và ngày càng cao của khách hàng. Thực hiện chức năng này có nghĩa là bộ phận marketing phải nghiên cứu thị trường, xác định được nhu c u đòi hỏi, mong muốn và những xu thế thay đổi nhu c u của khách hàng. Trên cơ sở đó, marketing gắn kết chặt chẽ giữa hoạt động nghiên cứu thị trường với các bộ phận trong thiết kế, tiêu chuẩn hóa sản phẩm dịch vụ mới và cung ứng sản phẩm dịch vụ ngày càng tốt hơn so với nhu c u của thị trường.
Chức năng phân phối: Bao gồm toàn bộ quá trình tổ chức đưa sản phẩm dịch vụ của ngân hàng đến với các nhóm khách hàng đã chọn. Nội dung của chức năng phân phối bao gồm: Tìm hiểu khách hàng và lựa chọn những khách hàng tiềm năng; hướng dẫn khách hàng trong việc lựa chọn và sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng; tổ chức các dịch vụ hỗ trợ cho khách hàng, tổ chức hoạt động phục vụ khách hàng tại các điểm giao dịch và nghiên cứu phát triển hệ thống kênh phân phối hiện đại đáp ứng nhu c u của khách hàng. 6 Chức năng tiêu thụ: Việc tiêu thụ sản phẩm dịch vụ ngân hàng phụ thuộc vào nhiều nhân tố nhưng quan trọng nhất là chất lượng sản phẩm dịch vụ, sự hợp lý về giá và trình độ nghệ thuật của các nhân viên giao dịch trực tiếp. Thực hiện chức năng tiêu thụ đòi hỏi các ngân hàng phải đặt lợi ích của khách hàng cao hơn và đòi hỏi nhân viên giao dịch trực tiếp phải có nghệ thuật bán hàng.
Do đó, các ngân hàng rất quan tâm về việc đào tạo và nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ bán hàng. Chức năng yểm trợ: Chức năng yểm trợ là chức năng hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện tốt ba chức năng trên và nâng cao khả năng an toàn của hoạt động kinh doanh ngân hàng. Các hoạt động yểm trợ bao gồm: Quảng cáo, tuyên truyền và hội chợ, hội nghị khách hàng. Bốn chức năng trên có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển.
Trong bốn chức năng trên thì chức năng làm cho sản phẩm dịch vụ ngân hàng thích ứng với nhu c u thị trường là quan trọng nhất.3 Vai trò c a marketing ngân hàng Một là, marketing tham gia vào việc giải quyết những vấn đề kinh tế cơ bản của hoạt động kinh doanh ngân hàng. Xét về bản chất, ngân hàng cũng giống như các doanh nghiệp kinh doanh khác trên thị trường. Do đó, ngân hàng cũng phải đưa ra lựa chọn và giải quyết những vấn đề kinh tế cơ bản trong hoạt động kinh doanh của mình mà marketing là một công cụ đắc lực. Marketing giúp ngân hàng xác định được loại sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng c n cung ứng ra thị trường thông qua các hoạt động nghiên cứu thị trường.
Từ đó, nhận định được các cơ hội kinh doanh, quyết định phương thức thực hiện và khả năng cạnh tranh. Marketing giúp ngân hàng tổ chức tốt quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ và hoàn thiện mối quan hệ trao đổi giữa khách hàng và ngân hàng, góp ph n nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ và tạo hình ảnh tốt đẹp trong tâm trí khách hàng. Thông qua marketing, ngân hàng có thể giải quyết hài hòa các mối quan hệ lợi ích giữa khách hàng, nhân viên và Ban lãnh đạo ngân hàng bằng cách xây dựng 7 và điều hành các chính sách lãi, phí…phù hợp đối với từng loại khách hàng, khuyến khích nhân viên đưa ra sáng kiến, cải tiến quy trình, thủ tục nghiệp vụ nhằm cung cấp cho khách hàng nhiều tiện ích trong sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Hai là, marketing trở thành c u nối gắn kết hoạt động của ngân hàng với thị trường.
Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh dịch vụ. Do đó, thị trường vừa là đối tượng phục vụ vừa là môi trường hoạt động của ngân hàng. Hoạt động của ngân hàng và thị trường có mối quan hệ ảnh hưởng trực tiếp lẫn nhau. Do vậy, hiểu được nhu c u thị trường để gắn chặt với hoạt động của ngân hàng sẽ có hiệu quả cao.
Điều này sẽ được thực hiện tốt thông qua c u nối marketing bởi marketing giúp các nhà lãnh đạo ngân hàng nhận biết được các yếu tố và sự biến động của thị trường. Nhờ có marketing mà các nhà lãnh đạo ngân hàng có thể phối kết hợp và định hướng được hoạt động của tất cả các bộ phận và toàn thể nhân viên ngân hàng vào việc đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu c u của khách hàng. Ba là, marketing góp ph n tạo vị thế cạnh tranh của ngân hàng. Vị thế cạnh tranh của ngân hàng có liên quan mật thiết đến việc tạo ra các sản phẩm dịch vụ ở thị trường mục tiêu.
Cụ thể, marketing giúp: o Tạo tính độc đáo cho sản phẩm dịch vụ o Làm rõ t m quan trọng về sự khác biệt của sản phẩm dịch vụ o Tạo khả năng duy trì lợi thế về sự khác biệt tránh bị đối thủ sao chép 1.4 Đặc điểm c a marketing ngân hàng Marketing ngân hàng là một loại hình marketing chuyên ngành được hình thành trên cơ sở vận dụng nội dung, phương châm, nguyên tắc, kỹ thuật, quan điểm của marketing vào hoạt động ngân hàng. Do đó, marketing ngân hàng có những đặc điểm riêng biệt so với marketing thuộc lĩnh vực khác. Một là, marketing ngân hàng là loại hình marketing dịch vụ tài chính. Hoạt động ngân hàng là hoạt động dịch vụ nên có hai đặc tính là tính vô hình và tính không tách rời.
8 Với tính vô hình, khách hàng không nhìn thấy, không thể nắm giữ được, đặc biệt là khó khăn trong đánh giá chất lượng sản phẩm dịch vụ trước khi mua, trong quá trình mua và sau khi mua. Do đó, cách khách hàng đánh giá chất lượng sản phẩm dịch vụ rất chủ quan và cảm tính. Với tính không tách rời, được thể hiện trong quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ thường diễn ra đồng thời với quá trình tiêu thụ. Hai là, marketing ngân hànglà loại hình marketing hướng nội.
Marketing ngân hàng phức tạp bởi tính đa dạng, nhạy cảm của hoạt động ngân hàng, đặc biệt là quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ ngân hàng có sự tham gia đồng thời của cả cơ sở vật chất, khách hàng và nhân viên ngân hàng. Nhân viên là yếu tố quan trọng trong quá trình cung ứng, chuyển giao sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của toàn thể nhân viên ngân hàng theo định hướng phục vụ khách hàng ngày càng tốt hơn được gọi là marketing hướng nội. Đối thủ cạnh tranh có thể sao chép sản phẩm dịch vụ dễ dàng nhưng không thể sao chép được các mối quan hệ giữa nhân viên và khách hàng.Sự thành công của ngân hàng phụ thuộc nhiều vào việc giao tiếp và mối quan hệ giữa khách hàng và nhân viên.
Cho nên, các nhà quản trị c n phải đảm bảo mọi nhân viên đều nhận thức rõ về những gì mà ngân hàng hướng đến. Ba là, marketing ngân hàng là loại hình marketing quan hệ.