chương 1, luận văn trình bày những vấn cơ bản các khái niệm cơ bản liên quan đến nguồn vốn ODA và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và mối quan hệ giữa vốn ODA và khởi nghiệp sáng tạo. Đây là hai chủ thể chính liên quan đến các vấn đề lý luận sẽ được trình bày trong các chương tiếp theo. 15 luan an Chƣơng 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG THU HÚT SỬ DỤNG NGUỒN VỐN ODA CHO KNĐMST TẠI IPP 2. Thực trạng của quá trình thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA ở Việt Nam Với một quốc gia đang phát triển rất nhanh như Việt Nam, nhu cầu vốn rất lớn.
Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA là một trong những nguồn vốn đầu tư phát triển quan trọng đối với Việt Nam. Trước đây,Việt Nam nhận được hai nguồn vốn ODA song phương chủ yếu, một từ các nước thuộc tổ chức SEV (Hội đồng tương trợ kinh tế), trong đó chủ yếu là từ Liên Xô (cũ). Đây là một nguồn viện trợ không nhỏ và có ý nghĩa quan trọng nhất cả về nội dung, quy mô và chất lượng, cũng như giá cả, điều kiện tín dụng… Khoản viện trợ này đã giúp chúng ta xây dựng một số ngành quan trọng nhất của sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế. Nguồn viện trợ ODA thứ hai từ các nước DAC và một số nước khác, chủ yếu là Thụy Điển, Phần Lan, Đan Mạch, Na Uy, Pháp, Ấn Độ… Nguồn ODA này đã có ý nghĩa tích cực trên một số mặt trong sự nghiệp phát triển kinh tế và xã hội của Việt Nam.
Kể từ khi nối lại quan hệ với các nhà tài trợ (từ tháng 11-1993), Việt Nam đã đón nhận được sự cam kết và viện trợ vốn ODA của nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế, trở thành điểm đến hấp dẫn đối với ODA cho phát triển kinh tế xã hội. Trong thời kì 1993 - 2007,Việt Nam đã đạt được những kết quả ấn tượng trong thu hút và sử dụng vốn ODA. Theo thống kê, số vốn ODA các nhà tài trợ cam kết cho Việt Nam là 37 tỷ USD, chiếm khoảng 2% tổng ODA toàn cầu. Trong đó 22,6 tỷ USD đã được ký kết.
Bình quân mỗi năm Việt Nam đã thu hút được 2,5 tỷ USD vốn ODA. Dòng vốn ODA vào Việt Nam có xu hướng tăng nhưng không phải luôn luôn tăng. Vốn cam kết năm 1997 và 1998 giảm sút do tác động của cuộc khủng hoảng tiền tệ châu Á.Trong thời gian 1993 - 2007, vốn ODA giải ngân đã tăng hơn 4 lần. Hầu hết sự gia tăng dài hạn của vốn giải ngân là ở vốn vay hơn là vốn không hoàn lại.
Gần một nửa (49%) nguồn vốn vay có lãi suất thấp hơn 1%/năm và thời gian trả nợ ít nhất là 30 năm, trong đó có 10 năm ân hạn. Một 16 luan an phần ba nguồn vốn vay là với lãi suất hang năm từ 1% đến 2,5%. Hơn nữa, phần lớn khoản vay ODA sẽ được xem xét trong điều kiện hạn chế khả năng trả nợ bên ngoài của Việt Nam. Tổng nợ quy đổi của Việt Nam khoảng 37% GDP năm 2007, điều này cho thấy không có dấu hiệu nguy hiểm của khủng hoảng nợ ở Việt Nam.
Đặc biệt trong những năm gần đây, cam kết ODA mà các nhà tài trợ dành cho Việt Nam tăng khá đều: năm 2005 đạt khoảng 3,5 tỷ USD, năm 2006 đạt 3,75 tỷ USD, năm 2007 là 4,45 tỷ USD, còn cho năm 2008 con số này là 5,426 tỷ USD. Đây là mức cam kết kỷ lục, nâng tổng giá trị ODA cam kết trong 2 năm 2006 - 2007 đạt gần 9,88 tỷ USD, bằng 49% dự báo cam kết vốn ODA cho cả thời kỳ 2006 - 2010. Theo đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, năm 2007, tổng giá trị ODA được ký kết ước đạt hơn 3,6 tỷ USD (trong đó, vốn vay hơn 3,3 tỷ USD và viện trợ không hoàn lại hơn 289 triệu USD), tăng 12,3% so với năm 2006, góp phần đưa tổng vốn ODA ký kết trong 2 năm 2006 - 2007 lên 6,53 tỷ USD, tương đương 40% dự kiến ký kết trong thời kỳ 2006 - 2010. Trong 3 tháng đầu 2008, công tác vận động thu hút vốn đầu tư ODA của Việt Nam có nhiều thuận lợi do Việt Nam được đánh giá là một trong những nước sử dụng vốn ODA hiệu quả nhất.
Tính đến hết quý I/2008, tổng giá trị ODA ký kết thông qua các hiệp định cụ thể với các nhà tài trợ đạt 369,06 triệu USD, tăng 16% so với cùng kỳ năm 2007, trong đó vốn vay đạt 342,69 triệu USD và vốn viện trợ không hoàn lại đạt 26,37 triệu USD. Trong số này có những dự án tài trợ lớn như: ADB tài trợ cho dự án “Đường hành lang ven biển phía Nam thuộc tiểu vùng Mê Kông mở rộng” 150 triệu USD; Nhật Bản tài trợ “Chương trình ngân hàng - tài chính III” 75 triệu USD; dự án “Giáo dục trung học cơ sở vùng khó khăn nhất” trị giá 50 triệu USD, “Chương trình tín dụng hỗ trợ giảm nghèo lần thứ 6” (PRRSC6) trị giá 30,67 triệu USD… Mặc dù gặp nhiều khó khăn do những biến động của thị trường, tình hình lạm phát vẫn gia tăng, nhưng nhờ những nỗ lực và các giải pháp của Chính phủ đề ra nhằm hoàn thiện thể chế về quản lý và sử dụng vốn ODA, tình hình thu hút vốn ODA trong quý 2/2008 vẫn được đánh giá rất khả quan. Trong quý 2/2008 này Việt Nam ký với Nhật Bản các hiệp định trị giá khoảng 1 tỷ USD cho một số dự án cơ sở hạ tầng thiết 17 luan an yếu, ký với Liên minh châu Âu (EU) hiệp định trị giá 10,8 triệu USD cho dự án: “Phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam”, ký với Cơ quan Phát triển Pháp (AFD) hiệp định trị giá 1,5 triệu Euro (khoảng 2,3 triệu USD) viện trợ không hoàn lại cho Quỹ Đầu tư phát triển đô thị thành phố Hồ Chí Minh (HIFU)… Ngoài ra còn một số chương trình, dự án ODA đang hoàn tất thủ tục để đi đến ký kết. Những kết quả này cho thấy, sự tin tưởng, đồng tình và ủng hộ của cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế đối với công cuộc đổi mới và các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.
Hơn nữa, các nhà tài trợ quốc tế đánh giá rất cao về môi trường phát triển kinh tế - xã hội của nước ta đang ngày một hấp dẫn, thông thoáng với những tiêu chí của một nền kinh tế thị trường. Có thể nói, nguồn vốn ODA có vai trò và lợi ích rất lớn đối với Việt Nam, góp phần thúc dẩy tăng trưởng kinh tế xã hội. Thông qua nguồn vốn ODA, nhiều công trình, chương trình đã được xây dựng, triển khai. Đặc biệt có nhiều dự án vốn ODA đã được ký kết thực thi đem tới nhiều ý nghĩa kinh tế - xã hội quan trọng đối với quá trình phát triển đi lên của cả nước như: Góp phần vào sự thành công của chương trình dân số và phát triển; chương trình tiêm chủng mở rộng, chương trình dinh dưỡng trẻ em.
Nhiều công trình lớn được xây dựng từ nguồn vốn ODA: cầu Mỹ Thuận, cầu Sông Gianh, dự án nâng cấp quốc lộ 1A, dự án thủy lợi Cửa Đạt - Thanh Hóa… Hiện nay, đối tác lớn cung cấp vốn ODA cho Việt Nam bao gồm: Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), Qũy tiền tệ quốc tế (IMF), các tổ chức Liên Hiệp Quốc (UN) và nhiều nhà tài trợ song phương khác như Nhật Bản, Hàn Quốc. Theo thỏa thuận được ký cuối tháng 8, hỗ trợ ODA của Hàn Quốc cho Việt Nam đạt 1 tỷ USD trong giai đoạn 2008 - 2011, nhiều gấp 2 lần so với quy mô trong thỏa thuận ký kết năm 2007.Với cam kết này, Hàn Quốc trở thành nhà tài trợ song phương lớn thứ hai tại Việt Nam, và Việt Nam là nước nhận hỗ trợ phát triển nhiều nhất của Hàn Quốc. Kể từ năm 1993 đến nay, Chính phủ Hàn Quốc đã tài trợ 471,4 triệu USD vốn vay ưu đãi cho 16 dự án của Việt Nam. Theo Đề án định hướng thu hút và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính 2006-2010 và đạt mức tăng trưởng bình quân 7,5 - 8%/năm, Việt Nam cần huy động tổng vốn đầu tư khoảng 160 tỷ USD.
Trong đó, 65% huy động từ các nguồn vốn trong 18 luan an nước và 35% từ các nguồn vốn ngoài nước. Riêng nhu cầu về vốn ODA, trong 5 năm tới, cần thực hiện được khoảng 11 tỷ USD vốn ODA. Để thực hiện được nguồn vốn trên, cần phải có vốn ODA cam kết khoảng 19 - 21 tỷ USD. Đề án trên do Bộ Kế hoạch và Đầu tư lập, đã được Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng ký Quyết định 290 phê duyệt, đưa ra dự báo, nước ta có nhiều thuận lợi để tiếp tục thu hút nguồn vốn này.
Tuy nhiên, cũng không hiếm khó khăn khi nhu cầu về vốn ODA của các nước đang phát triển tiếp tục tăng mạnh, trong khi năng lực quản lý, thực hiện các chương trình và dự án ODA của Việt Nam còn nhiều yếu kém. Chính vì vậy, sau khi phân tích các yếu tố liên quan đến chính sách, xác định nguyên tắc thu hút và sử dụng vốn ODA thời gian tới, Đề án dự báo, nguồn vốn này dành cho Việt Nam sẽ đạt mức cam kết khoảng 19 - 21 tỷ USD, bình quân 4 tỷ USD/năm, tăng trung bình 8% so với mức cam kết ODA năm 2005. Trong đó, vốn ODA ký kết trong thời kỳ 2001-2005 chuyển tiếp sang khoảng 8 tỷ USD; nguồn vốn ký kết mới dự báo sẽ đạt 12,35 - 15,75 tỷ USD. Như vậy, tổng vốn ODA được ký kết thời kỳ 2006 - 2010 sẽ đạt khoảng 20,4 - 23,7 tỷ USD(2).
Kết quả khảo sát các nhà tài trợ cũng cho con số tương đương với dự báo này. Vậy nguyên nhân do đâu mà Việt Nam thu hút được nhiều ODA trong thời gian gần đây? Đó là: Thứ nhất, chế độ chính trị ổn định và sự nghiệp đổi mới toàn diện kinh tế - xã hội của Việt Nam đã đưa Việt Nam trở thành một trong những nước được cộng đồng viện trợ ưa thích. Thứ hai, Việt Nam đã hưởng lợi nhờ đạt được những kết quả ấn tượng về tăng trưởng kinh tế và giảm đói nghèo nhanh đúng vào thời điểm mà các nhà tài trợ đang tập trung vào lĩnh vực giảm nghèo và sẵn sàng viện trợ cho những nước sử dụng tốt nguồn vốn này.