chương 1 được chia thành 2 phần lớn. Phần thứ nhất là tổng quan về rủi ro trong hoạt động của NHTM và phần thứ hai là kiểm soát rủi ro trong hoạt động của NHTM. Trong phần thứ nhất, luận văn làm rõ khái niệm về rủi ro, các loại rủi ro trong hoạt động của NHTM. Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM là những biến cố không mong đợi xảy ra và gây tổn thất làm giảm thu nhập, giảm uy tín của ngân hàng và trầm trọng hơn là làm phá sản ngân hàng.
Rủi ro trong hoạt động ngân hàng xảy ra không chỉ làm cho một ngân hàng bị tổn thất mà nó còn kéo theo hiệu ứng dây chuyền, gây ảnh hưởng đến cả hệ thống ngân hàng và cả nền kinh tế. Mức độ và tính chất rủi ro khác nhau sẽ gây ra hậu quả không giống nhau song đều rất nguy hại bởi những tác động đến uy tín của ngân hàng và khả năng lan truyền. Các loại rủi ro chính mà luận văn đưa ra là rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động. Rủi ro tín dụng là khả năng khách hàng (người đi vay) nhận khoản vốn vay nhưng không thể hoàn trả vốn và lãi hoặc hoàn trả không đầy đủ các khoản vay và lãi cho ngân hàng, gây tổn thất cho ngân hàng Rủi ro thanh khoản là những tổn thất xảy ra đối với ngân hàng khi nhu cầu thanh khoản thực tế vượt mức dự kiến, hay nói cách khác, ngân hàng không đáp ứng nhu cầu thanh toán hay rút tiền của khách hàng.
Rủi ro thị trường là những tổn thất xảy ra đối với ngân hàng khi có sự biến động không lường trước của thị trường, bao gồm rủi ro lãi suất và rủi ro tỷ giá. iii Rủi ro hoạt động là những tổn thất xảy do những sai lệch trong quá trình vận hành các hoạt động kinh doanh của NHTM như: Sai lệch về thông tin và xử lý thông tin, bất hợp lý về quy trình và kỹ thuật nghiệp vụ và sự phối hợp giữa các bộ phận chức năng trong ngân hàng… Trong phần thứ hai, luận văn đi vào tìm hiểu các nội dung của kiểm soát rủi ro trong hoạt động của NHTM bao gồm: khái niệm và mục tiêu của kiểm soát rủi ro, quy trình kiểm soát rủi ro, mô hình tổ chức thực kiện kiểm soát rủi ro, công cụ kiểm soát rủi ro, các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kiểm soát rủi ro và các nhân tố ảnh hưởng đến kiểm soát rủi ro trong hoạt động của NHTM. Kiểm soát rủi ro là hoạt động nghiên cứu và ứng dụng các biện pháp ngăn chặn, phòng ngừa các loại rủi ro có thể phát sinh và xử lý các rủi ro đã phát sinh nhằm mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Mục tiêu của kiểm soát rủi ro là cho phép ngân hàng chủ động hơn đối với các rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động kinh doanh để từ đó lựa chọn các biện pháp nhằm giảm thiểu tối đa tổn thất khi xảy ra rủi ro nhằm đảm bảo lợi nhuận cho ngân hàng.
Mô hình tổ chức thực hiện kiểm soát rủi ro sẽ bao gồm: Hội đồng quản trị, Ban điều hành, Ủy ban kiểm soát rủi ro và ủy ban ALCO, Khối quản lý rủi ro tại hội sở chính và các chi nhánh trực tiếp kinh doanh. Đối với mối loại rủi ro thì các ngân hàng sẽ có những công cụ riêng để kiểm soát rủi ro xảy ra. Đối với rủi ro tín dụng, các công cụ được sử dụng để kiểm soát rủi ro là quy trình tín dụng, hệ thống xếp hạng tín dụng, giới hạn kiểm soát tín dụng, thẩm quyền phê duyệt tín dụng, chính sách phân bổ rủi ro tín dụng, chính sách phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng, chính sách xử lý nợ xấu. Đối với rủi ro thanh khoản và rủi ro hoạt động, các công cụ được sử dụng là giới hạn hoạt động theo loại tiền tệ, tỷ lệ dự trữ thanh khoản, hạn mức kinh doanh theo từng loại tiền tệ.
Đối với rủi ro hoạt động, các công cụ được sử dụng là quy trình công nghệ thông tin, kiểm soát nội bộ, an ninh và nguồn nhân lực, báo cáo sự cố và thu thập các số liệu về tổn thất thực tế và hệ thống các chỉ số kiểm soát rủi ro. iv Các chỉ tiêu được sử dụng để phản ánh hiệu quả kiểm soát rủi ro gồm: nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ quá hạn có khả năng thu hồi, tỷ lệ dư nợ cho vay 10 khách hàng lớn nhất/tổng dư nợ, tỷ lệ dư nợ cho vay một khách hàng hoặc một nhóm khách hàng liên quan/vốn tự có, chỉ số trạng thái tiền mặt, chỉ số dự trữ thanh khoản, chỉ số dư nợ/huy động vốn, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR). Các nhân tố ảnh hưởng đến kiểm soát rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thương mại bao gồm: quy trình nghiệp vụ, chất lượng thông tin, chất lượng đội ngũ cán bộ, cơ chế điều hành chính sách tiền tệ của NHNN và sự quản lý vĩ mô của nhà nước. Chƣơng 2: Thực trạng kiểm soát rủi ro tại NHTMCP Ngoại Thƣơng Việt Nam Nội dung của chương 2 bao gồm ba phần chính.
Phần thứ nhất là giới thiệu về quá trình hình thành và phát triển của NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam, mô hình tổ chức hoạt động của NHTMCP Ngoại thương VN và các kết quả đạt được trong hoạt động kinh doanh. Vietcombank được thành lập vào ngày 01/04/1963 với tổ chức tiền thân là Cục Ngoại hối trực thuộc NHNN. Sau hơn nửa thế kỷ hoạt động trên thị trường, Vietcombank hiện có trên 13.864 cán bộ nhân viên, với hơn 400 Chi nhánh/Phòng Giao dịch/Văn phòng đại diện/Đơn vị thành viên trong và ngoài nước, gồm Hội sở chính tại Hà Nội, 1 Sở Giao dịch, 79 chi nhánh và hơn 333 phòng giao dịch trên toàn quốc, 2 công ty trực thuộc trên toàn quốc (Công ty Cho thuê tài chính, Công ty chứng khoán), 2 công ty con tại nước ngoài, 1 văn phòng đại diện tại Singapore, 6 công ty liên doanh, liên kết. Bên cạnh đó, Vietcombank còn phát triển một hệ thống Autobank với khoảng 1.000 điểm chấp nhận thanh toán thẻ (POS) trên toàn quốc.
Hoạt động ngân hàng còn được hỗ trợ bởi mạng lưới hơn 1.300 ngân hàng đại lý tại 100 quốc gia và vùng lãnh thổ. Với bề dày hoạt động và đội ngũ cán bộ có chuyên môn vững vàng, nhạy bén với môi trường kinh doanh hiện đại, mang tính hội nhập cao…Vietcombank luôn là sự lựa chọn hàng đầu của các tập đoàn, các doanh nghiệp lớn và của hơn 6 triệu khách hàng cá nhân. v Trong thời gian vừa qua, mặc dù có những khó khăn do thắt chặt chính sách tiền tệ, khủng hoảng chung của nền kinh tế nên hoạt động của Vietcombank có phần bị ảnh hưởng tuy nhiên Vietcombank vẫn đạt được những chỉ tiêu tốt về tăng trưởng và lợi nhuận. Phần thứ hai là thực trạng kiểm soát rủi ro trong kinh doanh tại NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam.
Ở phần này, luận văn phân tích thực trạng rủi ro tại Vietcombank trong 5 năm gần đây, bộ máy tổ chức thực hiện và các công cụ để kiểm soát rủi ro tại Vietcombank. Trong những năm gần đây, do ảnh hưởng khó khăn chung của nền kinh tế nên tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ xảy ra sự cố trọng hoạt động tại Vietcombank cũng tăng lên. Tuy nhiên, Vietcombank cũng đã có những biện pháp cũng như chính sách quản lý rủi ro nhằm hạn chế rủi ro xảy ra cũng như tổn thất do rủi ro gây nên. Mô hình quản lý rủi ro được áp dụng tại Vietcombank gồm các phòng ban, bộ phận sau: Hội đồng quản trị, Ủy ban quản lý rủi ro, Hội đồng xử lý rủi ro, Ủy ban quản lý tài sản Nợ có, HĐTD Doanh nghiệp và HĐTD định chế tài chính, Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc phụ trách rủi ro, Các phòng ban quản lý rủi ro tại HSC, Người đứng đầu đơn vị.
Các công cụ được sử dụng để kiểm soát rủi ro tại Vietcombank gồm: đối với rủi ro tín dụng có các công cụ là quy trình tín dụng, chính sách tín dụng, chính sách phân bổ rủi ro tín dụng, giới hạn kiểm soát rủi ro tín dụng, thẩm quyền phê duyệt, chính sách phân bổ rủi ro tín dụng, chính sách phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng, chính sách xử lý nợ xấu; đối với rủi ro thanh khoản và rủi ro hoạt động, các công cụ được sử dụng là giới hạn hoạt động theo loại tiền tệ, tỷ lệ dự trữ thanh khoản, hạn mức kinh doanh theo từng loại tiền tệ; đối với rủi ro hoạt động, các công cụ được sử dụng là quy trình công nghệ thông tin, kiểm soát nội bộ, an ninh và nguồn nhân lực, báo cáo sự cố và thu thập các số liệu về tổn thất thực tế và hệ thống các chỉ số kiểm soát rủi ro Phần thứ ba là đánh giá thực trạng kiểm soát rủi ro trong hoạt động tại NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam. Nội dung của phần này đánh giá những mặt đạt được, vi những mặt còn hạn chế trong kiểm soát rủi ro tại NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam và nguyên nhân của những hạn chế này. Những mặt đạt được trong quản lý rủi ro tại Vietcombank là Vietcombank đã áp dụng một hệ thống kiểm soát rủi ro tín dụng tập trung, được phân lập rõ ràng theo quy trình, chức năng giữa quản lý rủi ro, kinh doanh và tác nghiệp. Sự tách biệt giữa 3 chức năng nhằm giảm thiểu rủi ro ở mức thấp nhất đồng thời phát huy tối đa kỹ năng chuyên môn của từng vị trí cán bộ làm công tác tín dụng.
Vietcombank đã chủ động áp dụng chính sách lãi suất linh hoạt theo tín hiệu thị trường, thu hẹp chênh lệch kỳ hạn bình quân giữa tài sản có và tài sản nợ, sử dụng có chọn lọc các sản phẩm phái sinh…Hoạt động của Ủy ban Quản lý Tài sản nợ - Tài sản có (ALCO) trong mối quan hệ tương tác với các phòng ban chức năng khác trong mô hình kiểm soát rủi ro theo thông lệ quốc tế cũng giúp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro lãi suất của Vietcombank. Đối với rủi ro thanh khoản, luôn tuân thủ ch ặt chẽ các quy đinh ̣ về phòng ngừa r ủi ro thanh khoản của NHNN như T ỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, tỷ lệ khả năng chi trả, tỷ lệ cấp tín dụng từ nguồn vốn huy động, tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, .