CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN 1.1 Chức năng và vai trò của Ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại đã được hình thành, tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới. Thông qua hệ thống ngân hàng thương mại các nguồn tiền nhàn rỗi được huy động và sử dụng để cung cấp vốn cho các tổ chức kinh doanh đang cần nguồn vốn hoạt động. Ngân hàng thương mại đang dần trở thành một định chế tài chính đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế của các nước trên thế giới. Tại Việt Nam, hệ thống ngân hàng thương mại chỉ mới được hình thành và phát triển trong khoảng thời gian rất ngắn nhưng cũng đã đạt được những bước phát triển nhất định.
Những khái niệm ban đầu về hoạt động ngân hàng được quy định tại Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính có hiệu lực từ ngày 01/10/1990. Với sự phát triển ngày càng phức tạp, hoạt động ngân hàng đòi hỏi phải có những hướng dẫn cụ thể và phù hợp. Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam số 07/1997/QHX ngày 12/12/1997 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật các Tổ chức tín dụng số 20/2004/QHXI ngày 15/06/2004 đã được ban hành để đáp ứng những thay đổi này. Sau đó ngày 16/06/2010 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 được ban hành và chính thức có hiệu lực từ 01/01/2011 thay thế Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 và Luật sửa đổi 2004 để quy định các hoạt động của hệ thống ngân hàng trong một giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế.
Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12: “ Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng” và “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác nhằm mục tiêu lợi nhuận”(Điều 4). Luật này cũng quy định rõ những hoạt động ngân hàng như nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.2 Chức năng của Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại thông qua các hoạt động ngân hàng để thực hiện các chức năng sau đây: Chức năng cơ bản và quan trọng nhất của Ngân hàng thương mại là trung gian tín dụng, đây cũng là nhiệm vụ chính yếu nhất của hoạt động ngân hàng. Ngân hàng thương mại là trung gian tập trung huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế và sử dụng nguồn vốn này để cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của các thành phần trong nền kinh tế. Trong quá trình hoạt động, hệ thống ngân hàng thương mại đã góp phần giúp điều hòa vốn trong nền kinh tế từ nơi thừa sang nơi thiếu, sự luân chuyển nguồn vốn này giúp nền kinh tế có nguồn vốn cung ứng ngày càng lớn để phát triển.
Chức năng thứ hai của Ngân hàng thương mại là trung gian thanh toán trong nền kinh tế. Khi nền kinh tế phát triển, các giao dịch thanh toán giữa các đối tác ngày càng lớn đòi hỏi phải có những phương thức thanh toán mới an toàn, chính xác và nhanh chóng. Đáp ứng nhu cầu này các ngân hàng thương mại đã đứng ra làm trung gian cung cấp và quản lý các phương tiện thanh toán cho khách hàng. Các khách hàng có thể mở tài khoản giao dịch tại ngân hàng và được cung cấp các phương tiện thanh toán để thực hiện các giao dịch.
Chức năng cuối cùng của ngân hàng thương mại là chức năng cung ứng dịch vụ ngân hàng. Với những ưu thế vượt trội như hệ thống mạng lưới rộng, hệ thống công nghệ thông tin hiện đại, kho quỹ theo quy chuẩn an toàn cao và khả năng tiếp cận nắm bắt những thông tin quan trọng của nền kinh tế. Ngân hàng thương mại có thể thực hiện việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng khác nhau trong nền kinh tế như dịch vụ ngân quỹ, chuyển tiền quốc tế, dịch vụ ủy thác hay tư vấn tài chính để gia tăng lợi nhuận hoạt động. Các chức năng nói trên của Ngân hàng thương mại có mối quan hệ tương hỗ nên việc thực hiện đồng bộ các chức năng này sẽ giúp cho hoạt động của các ngân hàng đạt hiệu quả cao hơn và phân tán những rủi ro trong quá trình hoạt động.3 Vai trò của Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế mỗi quốc gia, thông qua các hoạt động của mình hệ thống ngân hàng thương mại đã góp phần như là một chất xúc tác bôi trơn cho bộ máy kinh tế hoạt động một cách thuận lợi.
Ngân hàng thương mại thực hiện cung cấp vốn cho các chủ thể trong nền kinh tế đầu tư vào sản 3 xuất, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho hoạt động thanh toán diễn ra một cách an toàn, nhanh chóng và tiết kiệm, đồng thời cũng cung cấp những dịch vụ để hỗ trợ các đối tượng này hoạt động tốt hơn. Ngân hàng thương mại là trung gian để Ngân hàng trung ương thực thi các chính sách tiền tệ. Thông qua việc điều hành các công cụ như tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất, nghiệp vụ thị trường mở, tỷ giá hối đoái hay hạn mức tín dụng, ngân hàng trung ương đã tác động đến hoạt động của các ngân hàng thương mại và từ đó tác động đến nền kinh tế. Vai trò của ngân hàng thương mại cũng thay đổi tùy theo tình hình phát triển kinh tế của mỗi nước.
Với nền kinh tế ngày càng phát triển và xu thế hội nhập toàn cầu, vai trò của hệ thống ngân hàng thương mại không chỉ bó hẹp trong hoạt động kinh tế quốc gia mà còn là cầu nối giúp gắn kết giao lưu kinh tế trong nước với kinh tế thế giới và các nước trong khu vực. Hoạt động huy động vốn 1.1 Các nguồn vốn của Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt với hoạt động chính liên quan đến tiền tệ nên nguồn vốn hoạt động là một vần đề rất quan trọng đối với mỗi ngân hàng. Nguồn vốn là vấn đề cơ bản đầu tiên để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động cấp tín dụng cho nền kinh tế, ngân hàng có nguồn vốn càng lớn thì khả năng phát triển hoạt động sẽ càng thuận lợi. Nguồn vốn của ngân hàng thương mại bao gồm: - Vốn điều lệ và các quỹ - Vốn huy động - Vốn đi vay - Các nguồn vốn khác 1.1 Vốn điều lệ và các quỹ Vốn điều lệ Vốn điều lệ là nguồn vốn được hình thành lúc thành lập ngân hàng từ các nguồn vốn khác nhau và được bổ sung trong suốt quá trình hoạt động của ngân hàng.
Nguồn vốn này không lớn so với tổng nguồn vốn của ngân hàng và tùy theo hình thức sở hữu mà vốn điều lệ được tạo nên từ những nguồn khác nhau. Vốn điều lệ của ngân hàng thương mại nhà nước do ngân sách nhà nước cấp trong khi vốn điều lệ của ngân hàng 4 thương mại cổ phần là từ đóng góp của các cổ đông, ngân hàng liên doanh có vốn hình thành do hai bên liên doanh đóng góp theo tỷ lệ thỏa thuận, và các hình thức khác tùy theo loại hình ngân hàng và quy định pháp luật. Chính phủ sẽ quy định mức vốn pháp định đối với từng loại hình ngân hàng theo từng thời kỳ và các ngân hàng phải duy trì vốn điều lệ tối thiểu bằng vốn pháp định. Vốn điều lệ có thể tăng lên thông qua cấp vốn bổ sung, phát hành cổ phiếu mới, từ quỹ bổ sung vốn điều lệ hoặc định giá lại tài sản và các quỹ khác theo quy định của pháp luật.
Vốn điều lệ có thể chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong nguồn vốn hoạt động của mỗi ngân hàng nhưng lại có vai trò rất quan trọng. Đây là nguốn vốn ban đầu được ngân hàng sử dụng để tạo ra cơ sở vật chất đầu tiên như xây dựng, mua sắm tài sản cố định, trang bị các phương tiện phục vụ hoạt động. Vốn điều lệ có những ảnh hưởng lớn đến quá trình hoạt động của ngân hàng do các hoạt động như huy động vốn, cấp tín dụng, góp vốn đầu tư hay một số hoạt động khác phải tuân thủ quy định của pháp luật dựa trên việc đáp ứng tỷ lệ vốn sử dụng tính trên vốn tự có, với thành phần cơ bản của vốn tự có là vốn điều lệ. Chính vì điều này những ngân hàng thương mại có vốn điều lệ lớn sẽ thuận lợi hơn khi phát triển và đa dạng hóa các hoạt động của mình.
Các quỹ của ngân hàng Theo quy định của pháp luật, các ngân hàng thương mại sau khi đi vào hoạt động được thực hiện trích lập các quỹ để sử dụng cho các mục đích nhất định. Các quỹ của ngân hàng thương mại bao gồm: - Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ được trích từ 5% từ lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp dùng để bổ sung vốn điều lệ, mức tối đa của quỹ này không được vượt quá vốn điều lệ của ngân hàng. - Quỹ dự phòng tài chính được trích từ 10% từ lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp, số dư tối đa của quỹ này không được vượt quá 25% vốn điều lệ ngân hàng, được dùng để bù đắp phần còn lại của những tổn thất, thiệt hại về tài sản xảy ra trong quá trình kinh doanh sau khi đã được bù đắp bằng tiền bồi thường của các tổ chức, cá nhân gây ra tổn thất, của tổ chức bảo hiểm và sử dụng dự phòng trích lập trong chi phí. - Quỹ đầu tư phát triển dùng để đầu tư mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh và đổi mới công nghệ trang thiết bị, điều kiện làm việc của tổ chức tín dụng.
5 - Quỹ khen thưởng được sử dụng để thưởng cho cán bộ, nhân viên trong tổ chức tín dụng theo định kỳ hoặc đột xuất cho một số đối tượng do hội động thành viên của TCTD quyết định. - Quỹ phúc lợi: được dùng để đầu tư xây dựng hoặc sửa chữa, bổ sung vốn xây dựng các công trình phúc lợi của TCTD, chi cho các hoạt động thể thao, văn hoá, phúc lợi công cộng hoặc chi trợ cấp khó khăn cho cán bộ nhân viên.2 Vốn huy động Vốn huy động là nguồn vốn quan trọng đối với mỗi ngân hàng và chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng nguồn vốn ngân hàng.