Chương 1: Hiện trạng mạng lưới giao thông đường bộ tỉnh Bến Tre. Chương 2: Tổng quan về độ nhám mặt đường và các phương pháp thí nghiệm. Chương 3: Đánh giá và đề xuất giải pháp tăng cường độ nhám mặt đường của một số tuyến đường ở tỉnh Bến Tre. 4 CHƢƠNG 1: HIỆN TRẠNG MẠNG LƢỚI GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ TỈNH BẾN TRE 1.
Giới thiệu chung về các điều kiện tự nhiên tỉnh Bến Tre Hình 1-1: Vị trí địa lý tỉnh Bến Tre 1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 1.1 Vị trí địa lý Tỉnh Bến Tre có hình rẻ quạt mà đầu nhọn nằm ở thượng nguồn, các nhánh sông lớn giống như nan quạt xòe rộng ra ở phía Đông. Diện tích tự nhiên của tỉnh có 2. Phía bắc giáp tỉnh Tiền Giang, có ranh giới chung là sông Tiền, phía tây và nam giáp tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh, có ranh giới chung là sông Cổ Chiên, phía đông giáp biển Đông với chiều dài bờ biển 65 km. Bến Tre có bốn con sông lớn là Tiền Giang, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên bao bọc đồng thời chia Bến Tre thành ba phần là cù lao An Hóa, cù lao Bảo và cù lao 5 Minh phù sa màu mỡ.
Điểm cực Nam nằm trên vĩ độ 9o48’ Bắc, cực Bắc nằm trên vĩ độ 10o20’ Bắc, cực Đông nằm trên kinh độ 106o48’ Đông và điểm cực Tây nằm trên kinh độ 105o57’ Đông.2 Điều kiện tự nhiên Đị a hì nh : Địa hình tỉnh Bến Tre có độ cao trung bình từ 1 - 2 mét so với mực nước biển, thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, độ cao chênh lệch khá lớn, tối đa là 3,5 mét. Trong đó, Phần cao nhất thuộc khu vực huyện Chợ Lách và một phần huyện Châu Thành, độ cao tuyệt đối có nơi đạt trên 5 mét, nhưng đa số từ 3 đến 3,5 mét. Phần đất thấp độ cao trung bình khoảng 1,5 mét, tập trung tại các vùng thuộc huyện Châu Thành và huyện Giồng Trôm. Phần đất trũng, độ cao tối đa không quá 0,5 mét, phân bố ở các huyện ven biển như huyện Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú.
Địa hình bờ biển của tỉnh chủ yếu là các bãi bồi rộng với thành phần chủ yếu là bùn hoặc cát. Khi triều rút, các bãi bồi nổi lên và trải rộng ra biển hàng nghìn mét, tạo thuận lợi cho nuôi trồng hải sản. Bến Tre có 4 nhóm đất chính là nhóm đất cát, nhóm đất phù sa, nhóm đất phèn và nhóm đất mặn. Trong đó, nhóm đất mặn chiếm diện tích lớn nhất trong các loại đất của tỉnh 43,11%, nhóm đất phù sa chiếm 26,9% diện tích toàn tỉnh, nhóm đất phèn, chiếm khoảng 6,74% diện tích đất tự nhiên của tỉnh, nhóm đất cát chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích thấp nhất 6,4% diện tích toàn tỉnh.
Với điều kiện địa chất là các loại đất phù sa như trên thì việc thực hiện xây dựng các tuyến đường là hết sức phức tạp và tốn kém. Khí hậu: Bến Tre nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nhưng lại nằm ngoài ảnh hưởng của gió mùa cực đới, nên nhiệt độ cao, ít biến đổi trong năm, nhiệt độ trung bình hằng năm từ 26°C – 27°C. Tỉnh Bến Tre chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau và gió mùa tây nam từ tháng 5 đến tháng 11, giữa 2 mùa này thời kỳ chuyển tiếp có hướng gió thay đổi vào các tháng 11 và tháng 4 tạo nên 2 mùa rõ rệt. Mùa gió đông bắc là 6 thời kỳ khô hạn, mùa gió tây nam là thời kỳ mưa ẩm.
Lượng mưa trung bình hằng năm từ 1. Trong mùa khô, lượng mưa vào khoảng 2 đến 6% tổng lượng mưa cả năm. Độ ẩm nhìn chung khá cao 76-86%, trong đó các huyện ven biển có độ ẩm 83-91%. Thủy văn: Là tỉnh có một mạng lưới sông ngòi chằng chịt với tổng chiều dài xấp xỉ 6.000 km, trong đó có sông Cổ Chiên 82 km, sông Hàm Luông 71 km, sông Ba Lai 59 km, sông Tiền 83 km.
Mật độ sông ngòi dày đặt này đã là điều kiện thuận lợi phát triển giao thông thủy, nguồn thủy sản phong phú, nguồn nước tưới tiêu cho cây trồng. Tuy nhiên đây cũng là trở ngại đáng kể cho giao thông bộ, cũng như việc cấp nước vào mùa khô, khi mà thủy triều biển Đông đưa nước mặn vào sâu trong kênh rạch.2 Tổ chức hành chính Tỉnh Bến Tre có 9 đơn vị hành chính trực thuộc gồm Thành phố Bến Tre và 8 huyện là Châu Thành, Bình Đại, Ba Tri, Giồng Trôm, Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc, Chợ Lách, Thạnh Phú với 7 thị trấn, 10 phường và 147 xã. Trung tâm hành chính, chính trị, kinh tế văn hoá xã hội của tỉnh đặt tại Thành phố Bến Tre. Dân số [10] Tốc độ gia tăng dân số giai đoạn 2010 – 2013 là 0,63%/năm.
Năm 2010 và năm 2012 là 2 năm có tỷ lệ tăng trưởng cao ( 2010 là 0,66% và 2012 là 0,74%) và những năm sau đó giảm dần. Tốc độ tăng dân số trong giai đoạn vừa qua có đặc trưng sau: - Tỷ lệ sinh có năm tăng năm giảm. - Tỷ lệ tăng cơ học khá cao. Năm 2014, dân số toàn tỉnh là 1.205 người, trong đó dân thành thị chiếm 11,4%, phân theo giới tính nữ chiếm 50,96%; mật độ dân số 535 người/ km2 , dân cư tập trung đông nhất ở Thành phố Bến Tre (1.698 người/km2), thấp nhất ở huyện Thạnh Phú (302 người/km2).2 Khái quát chung về mạng lƣới giao thông đƣờng bộ tỉnh Bến Tre 1.1 Mạng lưới giao thông đường bộ tỉnh Bến Tre [13] - Tỉnh Bến Tre có địa thế ốc đảo hình nan quạt gồm cù lao An Hóa (một phần huyện Châu Thành, Bình Đại), cù lao Bảo (phần còn lại huyện Châu Thành, Thành phố Bến Tre, Giồng Trôm, Ba Tri) và cù lao Minh (huyện Chợ Lách, Mỏ Cày, Thạnh Phú).
Hiện tại vận tải đường bộ và đường thủy đóng vai trò chủ đạo trong giao lưu đi lại và vận chuyển hàng hóa của tỉnh với các tỉnh khác. - Với vị trí nằm ven biển, có 4 sông lớn và hàng trăm kênh rạch chia cắt trên địa bàn đã có những ảnh hưởng đến sự phát triển hệ thống đường bộ của tỉnh. Nhìn chung, giao thông thủy có nhiều thuận lợi vì hệ thống đường bộ giao lưu với các tỉnh lân cận còn thiếu các cầu lớn vượt sông hoặc đã có cầu nhưng quá tải do lưu lượng xe đông. Cụ thể, QL.60 từ Bến Tre đến tỉnh Tiền Giang qua cầu Rạch Miễu đã được xây dựng trước đây nay đã quá tải; QL.57 nối cù lao Minh đến trung tâm tỉnh Vĩnh Long qua phà Đình Khao.
Mặt khác, hệ thống cầu yếu và tải trọng thấp đã ảnh hưởng không nhỏ khả năng lưu thông của hệ thống đường bộ trên địa bàn tỉnh. - Trên địa bàn tỉnh Bến Tre có 2 tuyến quốc lộ đi ngang là quốc lộ 60 và quốc lộ 57 với tổng chiều dài 126,506 km; bao gồm: - Bê tông nhựa chiếm: 58,7 % với 74,26 km - Láng nhựa chiếm: 36,72 % với 46,45 km - Đá dăm, cấp phối chiếm: 4,58 % với 5,79 km Cụ thể các tuyến như sau: 1. Quốc lộ 57: Quốc lộ 57 bắt đầu từ ngã tư Đồng Quê, giao với quốc lộ 53, thuộc phường 4, thành phố Vĩnh Long, đi qua các huyện Long Hồ (Vĩnh Long), Chợ Lách, Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam (Bến Tre) và kết thúc tại xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú (Bến Tre). Quốc lộ 57 trước đây là tỉnh lộ 888 được chuyển thành quốc lộ theo quyết định của Bộ Giao thông vận tải vào ngày 25 tháng 6, 1999 với tổng 8 chiều dài khoảng 104,3 km.
QL57 đến địa phận Bến Tre tại Km7+410 tại huyện Chợ Lách và điểm cuối tiếp giáp với biển Đông tại Km104+276. Đây là trục giao thông xương sống của Cù Lao Minh, đồng thời là trục đối ngoại quan trọng của tỉnh Bến Tre đến các tỉnh ĐBSCL theo hướng qua tỉnh Vĩnh Long và nối vào Quốc lộ 1A hoặc theo Quốc lộ 60 qua cầu Cổ Chiên và nối vào Quốc lộ 53 đến các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng. Hiện trạng toàn đoạn tuyến là đường BTN (41,45Km), mặt đường láng nhựa (46,45Km) và mặt đường cấp phối, chất lượng trung bình. Bề rộng mặt đường trung bình từ 5-7m.
Tổng chiều dài cầu trên đoạn tuyến 2.671m đều là cầu BTCT vĩnh cửu. Quốc lộ 60: Quốc lộ 60 bắt đầu từ Quốc lộ 1 tại ngã ba Trung Lương giao với quốc lộ 57 tại thị trấn Mỏ Cày, với quốc lộ 53 tại thành phố Trà Vinh, với quốc lộ 54 tại thị trấn Tiểu Cần, với tuyến đường Nam Sông Hậu tại Đại Ngãi và kết thúc tại thành phố Sóc Trăng với chiều dài 115 Km. tại điểm quốc lộ 1A thành phố Sóc Trăng vào đường Sóc Vồ, tạo liên thông 6 tỉnh Tiền Giang Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Hậu Giang và Kiên Giang. Đây là trục giao thông quan trọng theo hướng Bắc Nam và cũng là trục giao thông đối ngoại quan trọng của tỉnh đến vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, đặc biệt là TP.
Hồ Chí Minh - trung tâm kinh tế của cả nước. Quốc lộ 60 trên địa phận tỉnh Bến Tre dài khoảng 30Km, bắt đầu tại Km6+200 và kết thúc tại Km36+200. Hiện trạng đoạn tuyến là đường BTN, bề rộng mặt đường trung bình từ 7-21m. Tổng chiều dài cầu trên đoạn tuyến có 8 cầu với tổng chiều dài là 2.273m đều là cầu BTCT vĩnh cửu.
Hiện tại, đoạn tuyến đi qua địa phận tỉnh Bến Tre đã được chính phủ phê duyệt cho phép triển khai nâng câp mở rộng theo hình thức hợp đồng B. Mạng đường tỉnh gồm 6 tuyến với tổng chiều dài 188,4 km; trong đó Bê tông nhựa chiếm 108,7Km, láng nhựa chiếm 74,94Km, phần còn lại là phà và cầu. Trên hệ thống đường Tỉnh có 45 cầu với chiều dài 3. Hiện trạng các tuyến đường tỉnh như sau: 9 1.
ĐT 882: Nối Quốc lộ 57 với Quốc lộ 60, dài 9,9Km. Toàn tuyến là đường BTN chất lượng mặt đường trung bình đạt tiêu chuẩn đường cấp IV đồng bằng với nền rộng 9m, mặt rộng 6m. ĐT 883: Tuyến dài 76,2km đi từ ĐT. Châu Thành đến km76+205 – xã Thới Thuận huyện Bình Đại, bao gồm 51,6km mặt đường bê tông nhựa, láng nhựa 22,9km, còn lại là cầu.
Hiện tuyến được đầu tư nâng cấp mở rộng một số đoạn đạt tiêu chuẩn đường cấp II đồng bằng với mặt đường rộng 21m, phần còn lại đạt tiêu chuẩn đường cấp IV đồng bằng với mặt đường rộng từ 6 - 9m, chất lượng khá tốt. ĐT 884: Tuyến dài 27,7km đi từ ngã tư Tân Thành, Tp. Bến Tre qua huyện Châu Thành và kết thúc tại QL.57 thuộc địa phận huyện Chợ Lách.