Chương 1 Trình bày những nội dung cơ bản của nghiên cứu bao gồm bối cảnh của nghiên cứu, mục đích nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Chương 2 Trình bày tổng quan về cơ sở lý thuyết về sinh kế và khung phân tích sinh kế bền vững DFID, tóm tắt các nghiên cứu trước về chủ đề có liên quan từ đó mô tả khung phân tích mà tác giả sẽ sử dụng để phân tích nghiên cứu này. Chương 3 Đề cập phương pháp nghiên cứu, phương pháp chọn mẫu và phương pháp phân tích dữ liệu khảo sát. Chương 4 Trình bày kết quả nghiên cứu dựa trên cơ sở lý thuyết của Chương 2 và dữ 14 123doc liệu thu được nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu.
Chương 5 Đưa ra các đề xuất và chính sách có thể giúp người dân bị thu hồi đất có được sinh kế bền vững trong thời gian tới từ kết quả nghiên cứu. Kết luận 15 123doc • TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT • Các khái niệm: • Định nghĩa sinh kế (livelihood): Sinh kế là một khái niệm rộng, được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Một định nghĩa phổ biến theo DFID (1999) thì sinh kế bao gồm các khả năng, các tài sản (bao gồm cả các nguồn lực vật chất và xã hội) và hoạt động cần thiết để kiếm sống. Trong từ điển Oxford sinh kế là phương tiện để đảm bảo nhu cầu thiết yếu của cuộc sống.
• Sinh kế bền vững: Một sinh kế bền vững là nó có khả năng đối phó và phục hồi khi bị tác động hay có thể thúc đẩy các khả năng và tài sản ở cả thời điểm hiện tại hay trong tương lai trong khi không làm xói mòn nền tảng nguồn lực tự nhiên (Nguyễn Văn Sửu, 2010, trích trong Tim Hanstad, Robin Nielsn and Jennifer Brown, 2004). Theo DFID (1999) cho rằng “Một sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể đối phó và phục hồi vượt qua những căng thẳng, các cú sốc; duy trì và tăng cường hơn nữa năng lực và các nguồn tài sản ở hiện tại cũng như trong tương lai mà không phá hoại các nguồn tài nguyên thiên nhiên”. • Thu hồi đất Theo định nghĩa của World Bank, thu hồi đất là quá trình một người phải bỏ quyền sở hữu, kiểm soát hoặc sử dụng tất cả hoặc một phần đất đai, tài sản và nhà của họ. Theo quy định tại Luật đất đai năm 2003 thì thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho các cá nhân, tổ chức sử dụng.
• Bồi thường Bồi thường là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất đối với diện tích bị thu hồi cho người bị thu hồi đất (Luật đất đai 2003). Quá trình bồi 16 123doc thường được xem như là đánh giá, đo lường những tổn thất của những người bị thu hồi đất bằng hình thức tiền hoặc hiện vật và được chi trả một lần cho người sở hữu đất. • Khung phân tích sinh kế bền vững (Sustainable Livelihood Framework). Khung phân tích sinh kế bền vững là một công cụ trình bày các yếu tố chính ảnh hưởng đến sinh kế của người dân và mối quan hệ giữa các yếu tố đó.
Nó có thể được sử dụng trong cả hai hoạt động phát triển trong tương lai và các hoạt động hiện tại đối với sinh kế bền vững. Tác giả phân tích dựa vào khung phân tích sinh kế bền vững của DFID như sau: Hình 2: Khung sinh kế bền vững Nguồn: DFID, sustainable livelihoods guidance sheets, 1999 - Bối cảnh dễ bị tổn thương: Theo DFID (1999) thì bối cảnh dễ bị tổn thương là môi trường bên ngoài mà trong đó con người, sinh kế của con người và các tài sản sẵn có của họ bị ảnh hưởng cơ bản bởi các xu hướng, các cú sốc hay tính mùa vụ mà họ hạn chế được hoặc không có kiểm soát. Các yếu tố của bối cảnh dễ bị tổn thương bao gồm: + Xu hướng: Xu hướng dân số, xu hướng tài nguyên bao gồm cả xung đột trong 17 123doc việc sử dụng; xu hướng kinh tế bao gồm cả trong nước lẫn quốc tế; xu hướng kỹ thuật; xu hướng trong quản trị bao gồm cả chính trị. + Cú sốc: Thay đổi về sức khoẻ của con người, thay đổi tự nhiên, thay đổi về kinh tế, các xung đột và việc thay đổi quá trình phát triển trong trồng trọt và chăn nuôi.
+ Tính thời vụ: Liên quan đến giá cả, sản xuất, sức khoẻ và các cơ hội việc làm. Việc nghiên cứu các nhân tố của bối cảnh dễ tổn thương hết sức quan trọng vì qua đó xác định các tác động sâu sắc bất lợi đến đời sống của người dân, từ đó sẽ đưa ra các giải pháp hạn chế tiêu cực và chuyển hướng làm sao các tác động này ít ảnh hưởng nhất đối với nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội. - Tài sản sinh kế: Theo DFID (1999), tài sản sinh kế là việc kết hợp 5 loại tài sản gồm nguồn vốn con người (H), nguốn vốn tự nhiên (N), nguồn vốn tài chính (F), nguồn vốn vật chất (P), nguồn nguồn vốn xã hội (S) để tạo ra sinh kế tích cực cho đời sống. Giữa chúng có hai mối quan hệ quan trọng là xác định trình tự (sequencing) và thay thế (Substitution).
Năm loại tài sản này được xem là yếu tố cơ bản trong khung phân tích về sinh kế bền vững. + Nguồn vốn con người (Human capital): Vốn con người đại diện cho các kỹ năng, tri thức, khả năng làm việc và sức khỏe tốt, tất cả cộng lại tạo điều kiện giúp con người theo đuổi các chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được các mục tiêu sinh kế. Ở cấp độ hộ gia đình, vốn con người là yếu tố về số lượng và chất lượng lao động của hộ; yếu tố này khác nhau tùy thuộc vào kích cỡ của hộ, trình độ giáo dục và kỹ năng nghề nghiệp, khả năng quản lý, tình trạng sức khỏe, tri thức về các cấu trúc sở hữu chính thống và phi chính thống (như các quyền, luật pháp, chuẩn mực, cấu trúc chính quyền, các thủ tục). Nguồn vốn con người là quan trọng nhất trong tài sản sinh kế, vì vốn con người là yếu tố cần thiết để sử dụng và tạo ra bốn tài sản còn lại.
Vốn con người được nâng cao thông qua đầu tư trong giáo dục, huấn luyện các kỹ năng lao động để có thể đáp ứng với một hoặc nhiều nghề nghiệp. + Nguồn vốn tài chính (Financial capital): Vốn tài chính ngụ ý về các nguồn lực tài chính mà con người sử dụng để đạt được các mục tiêu sinh kế của mình. Nó bao gồm tiền mặt và các khoản tài chính tương đương như tiền gửi ngân hàng hoặc các tài sản như gia 18 123doc súc và đồ trang sức. Đây cũng là loại tài sản linh hoạt nhất trong năm loại tài sản, có thể chuyển đổi với các mức độ khác nhau một cách dễ dàng, đóng vai trò trung gian và có ý nghĩa quan trọng trong việc sử dụng hiệu quả bốn loại tài sản kia.
+ Nguồn vốn tự nhiên (Natural capital): Vốn tự nhiên là tất cả những nguyên vật liệu tự nhiên để tạo dựng sinh kế. Có rất nhiểu nguồn lực tạo thành vốn tự nhiên bao gồm cả các nguồn lực đất đai, nước, rừng, biển, các tài nguyên hoang dã, chất lượng không khí, mức độ đa dạng sinh học, chất thải. + Nguồn vốn vật chất (Physial capital): Vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng và các loại hàng hóa mà người sản xuất cần để hậu thuẫn sinh kế. Cơ sở hạ tầng bao gồm thay đổi môi trường vật chất mà mọi người giúp đỡ để đáp ứng nhu cầu cơ bản của họ, bao gồm chi phí lưu thông, chất lượng của nhà ở, hệ thống cấp nước và vệ sinh môi trường, giá cả của năng lượng, chất lượng của truyền thông.
+ Nguồn vốn xã hội (Social capital): Là các nguồn lực xã hội mà con người sử dụng để theo đuổi các mục tiêu sinh kế của mình. Chúng được phát triển thông qua các mạng lưới, hợp tác giữa các thành viên nhóm chính thức; các mối quan hệ được thực hiện dựa trên niềm tin, sự phụ thuộc lẫn nhau, trao đổi và ảnh hưởng lẫn nhau. - Chiến lược sinh kế: Là các kế hoạch làm việc dài hạn của cộng đồng để kiếm sống. Nó thể hiện sự đa dạng cũng như kết hợp nhiều hoạt động và lựa chọn mà con người tiến hành nhằm đạt được mục tiêu sinh kế của mình.
Người dân sẽ phải thích nghi và lựa chọn sinh kế phù hợp với bản thân mình khi xảy ra cú sốc để tạo được sinh kế bền vững. - Kết quả của sinh kế: Là những thay đổi có lợi cho sinh kế của cộng đồng, nhờ các chiến lược sinh kế mang lại, cụ thể như thu nhập cao hơn, cuộc sống ổn định hơn, giảm rủi ro, đảm bảo tốt hơn an toàn thực phẩm, và sử dụng bền vững hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên. Dựa vào khung phân tích của DFID (1999) và dữ liệu khảo sát, tác giả đưa ra khung phân tích sinh kế bền vững cho các hộ dân bị thu hồi đất tại KKT Đông Nam (Phụ lục 4). • - Ưu, nhược điểm của khung phân tích sinh kế bền vững DFID • + Ưu điểm 19 123doc Khung phân tích sinh kế bền vững DFID hiện nay được xem như khung phân tích chuẩn được áp dụng trên toàn thế giới về phân tích đói nghèo.
Với cách tiếp cận khá tổng quát khi nghiên cứu đến các khía cạnh sinh kế của con người, khung phân tích DFID đã đưa ra được bức tranh khá toàn diện, làm cơ sở để đưa ra các giải pháp giúp người nghèo có được cuộc sống tốt hơn. Không chỉ có ý nghĩa về mặt nghiên cứu, khung phân tích này còn có ý nghĩa thực tiễn tương đối cao. Đối với các nghiên cứu ở Việt Nam cũng như các nước đang phát triển, khung phân tích sinh kế bền vững DFID đã có nhiều đóng góp trong công cuộc xóa đói giảm nghèo. • + Nhược điểm Hiện nay khung phân tích sinh kế bền vững của DFID chủ yếu được nghiên cứu trong vấn đề đói nghèo mà chưa phải được áp dụng rộng rãi cho tất cả mọi trường hợp.
Bên cạnh đó, khung phân tích còn bộc lộ những hạn chế khi đánh giá tài sản sinh kế ở năm khía cạnh của tài sản sinh kế: Tài chính, con người, vật chất, xã hội và tài sản tự nhiên. Trong mỗi loại tài sản chỉ tập trung một số nội dung chính. Điều này dẫn đến khi nghiên cứu sinh kế tại một địa phương sẽ không đánh giá tổng quát các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế.