Chương 1: Cơ sở lý luận về Rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thƣơng mại - Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần An Bình - Chương 3: Giải pháp tăng cƣờng hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần An Bình. 5 Chƣơng 1 RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI Đối với các ngân hàng thƣơng mại thì tín dụng đem lại nguồn thu chủ yếu cho ngân hàng tuy nhiên nó cũng chứa đựng nhiều rủi ro nhất. Thực tế chứng minh rằng có nhiều ngân hàng lớn nhƣng do việc quản trị rủi ro tín dụng không tốt đã làm cho ngân hàng bị giảm sút lợi nhuận, thậm chí rơi vào diện phải tái cấu trúc theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nƣớc. LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG Hoạt động kinh doanh của ngân hàng luôn phát sinh rủi ro, ứng với mỗi hoạt động của ngân hàng có rủi ro riêng đối với hoạt động đó, bên cạnh đó có những rủi ro có thể ảnh hƣởng đến tất cả hoạt động của ngân hàng.
Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động đem lại thu nhập cao nhất cho ngân hàng thƣơng mại, cùng với đó thì rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro có mức độ ảnh hƣớng lớn nhất đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thƣơng mại. Tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng là hệ thống quan hệ kinh tế liên quan đến các giao dịch về tài sản giữa bên cho vay và bên đi vay, trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Xét về bản chất, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả với các đặc trƣng sau: Thứ nhất, tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng bao gồm hai hình thức là tiền hay hiện vật.
Thứ hai, tín dụng phải tuân thủ theo nguyên tắc hoàn trả, vì vậy ngƣời cho vay khi chuyển giao tài sản cho ngƣời đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng ngƣời đi vay sẽ trả đúng hạn. 6 Thứ ba, giá trị đƣợc hoàn trả thông thƣờng phải lớn hơn giá trị lúc cho vay hay nói cách khác là ngƣời đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc. Thứ tư, tiền vay đƣợc cấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện, có nghĩa là bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Phân loại hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Ngân hàng cung cấp rất nhiều loại tín dụng, cho nhiều đối tƣợng khách hàng, với những mục đích sử dụng khác nhau.
Căn cứ vào thời gian, tín dụng ngân hàng được chia làm ba loại: Tín dụng ngắn hạn: Là các khoản tín dụng có thời gian cho vay đến 12 tháng. Tín dụng trung hạn: Là các khoản tín dụng có thời gian cho vay từ 12 tháng đến 60 tháng. Tín dụng dài hạn:Là các khoản tín dụng có thời gian cho vay từ 60 tháng trở lên. Căn cứ vào biện pháp bảo đảm, tín dụng ngân hàng được chia làm hai loại: Tín dụng có bảo đảm bằng tài sản: Là các khoản tín dụng mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng đƣợc cam kết bảo đảm thực hiện bằng tài sản cầm cố, thế chấp của khách hàng vay hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba.
Tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản: Là các khoản tín dụng mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng không đƣợc cam kết bảo đảm thực hiện bằng tài sản cầm cố, thế chấp của khách hàng hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba. Vai trò của tín dụng ngân hàng thương mại Tín dụng ngân hàng đóng vai trò trung gian giải quyết mâu thuẫn phát sinh trong quá trình tuần hoàn, chu chuyển vốn của doanh nghiệp Với nghiệp vụ huy động vốn ngân hàng thƣơng mại tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có cơ hội đầu tƣ, sinh lợi từ vốn nhàn rỗi tạm thời. Bằng nguồn vốn huy động đƣợc các ngân hàng có điều kiện đáp ứng vốn cho các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn. Là cầu nối giữa bên thừa vốn và bên thiếu vốn tạm thời, tín dụng ngân hàng góp phần điều hòa vốn trong toàn bộ nền kinh tế, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh đƣợc tiến hành một cách liên tục, không bị gián đoạn.
Tín dụng ngân hàng góp phần giải quyết mâu thuẫn giữa chu kỳ thu nhập và 7 chu kỳ tiêu dùng Rất khó để chu kỳ thu nhập và chu kỳ tiêu dùng có thể trùng khớp nhau, do tính chất của từng giai đoạn. Chính vì vậy tín dụng ngân hàng không chỉ giải quyết đƣợc mâu thuẫn giữa chu kỳ thu nhập và chu kỳ tiêu dùng của các cá nhân, mà còn góp phần nâng cao đời sống cho ngƣời lao động, kích thích sản xuất phát triển. Tín dụng ngân hàng thu hút nguồn vốn tiết kiệm và thúc đẩy quá trình tập trung vốn, đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế. Đối với các doanh nghiệp vốn tự có dùng để đầu tƣ có giới hạn, bên cạnh đó việc huy động vốn trực tiếp đòi hỏi những điều kiện hết sức chặt chẽ mà không phải bất cứ doanh nghiệp nào cũng thực hiện đƣợc, trong trƣờng hợp này vốn tín dụng là nguồn tài trợ quan trọng cho nhu cầu đầu tƣ.
Tín dụng thực hiện huy động vốn tiết kiệm của cá nhân, doanh nghiệp, nhà nƣớc để đáp ứng nhu cầu đầu tƣ, phát triển kinh tế. Bằng việc thu hút nguồn vốn tiết kiệm đáp ứng cho nhu cầu đầu tƣ, tín dụng ngân hàng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tƣ. Tín dụng góp phần ổn định tiền tệ, ổn định giá cả Với sự hoạt động của hệ thống tín dụng, các nguồn tiền nhàn rỗi của cá nhân và doanh nghiệp đƣợc tập trung lại và sau đó tín dụng tiến hành phân phối các nguồn vốn đã đƣợc tập trung này nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất, lƣu thông hàng hóa cũng nhƣ nhu cầu tiêu dùng trong toàn xã hội. Thông qua kênh tín dụng, bằng chính sách tiền tệ thích hợp cho từng giai đoạn nhà nƣớc có thể điều tiết lƣợng tiền cung ứng cho nền kinh tế góp phần ổn định tiền tệ, giá cả.
Tín dụng ngân hàng góp phần ổn định đời sống của dân cư, tạo công ăn việc làm và đảm bảo trật tự xã hội Do tín dụng có vai trò thúc đẩy nền kinh tế phát triển, sản xuất hàng hóa và dịch vụ ngày càng gia tăng, thỏa mãn nhu cầu đời sống của ngƣời lao động. Bên cạnh đó, việc cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế đã tạo ra khả năng khai thác các tiềm năng sắn có trong xã hội về tài nguyên thiên nhiên, lao động… từ đó có thể thu hút nhiều lực lƣợng lao động của xã hội, tạo công ăn, việc làm. Một xã hội phát triển lành mạnh, đời sống đƣợc ổn định, ai cũng có công ăn việc làm. Rủi ro tín dụng của ngân hàng thƣơng mại Để tìm hiều về rủi ro tín dụng cần làm rõ khái niệm rủi ro tín dụng, phân loại rủi ro tín dụng theo các tiêu chí phù hợp, tìm hiểu mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng với các rủi ro khác, các tiêu thức để nhận biết rủi ro tín dụng, nguyên nhân của rủi ro tín dụng cũng nhƣ tác động của rủi ro tín dụng đến hoạt động của ngân hàng.
Khái niệm rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động tín dụng, là hoạt động cơ bản của ngân hàng và đem lại nguồn thu chủ yếu của ngân hàng hiện nay, có thể gây tổn thất về tài chính, về kinh tế mà tác động trực tiếp là làm giảm lãi, giảm giá trị thị trƣờng về vốn, trong trƣờng hợp nghiêm trọng hơn có thể làm hoạt động kinh doanh của ngân hàng bị thua lỗ, thậm chí là phá sản ngân hàng. Theo Khoản 1 Điều 2 Thông tƣ số 02/2013/TT-NHNN ngày 21 tháng 01 năm 2013 quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phƣơng pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng. chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài, rủi ro tín dụng đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện được hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Phân loại rủi ro tín dụng Có nhiều cách phân loại và tiếp cận rủi ro tín dụng khác nhau, sau đây là một số cách phân loại phổ biến: - Căn cứ vào nguồn gốc của rủi ro tín dụng có thể chia rủi ro tín dụng làm 2 nhóm: rủi ro đạo đức và rủi ro do sự lựa chọn đối nghịch; + Rủi ro đạo đức: là rủi ro do thông tin không cân xứng tạo ra sau khi cuộc giao dịch diễn ra.
Vì lợi ích cá nhân mà bên cho vay đã bỏ qua các thông tin không tin cậy về năng lực trả nợ của bên đi vay hoặc bên đi vay đã cố tình không tuân thủ các quy định trong thỏa thuận vay, không cung cấp các thông tin có thể ảnh hƣởng đến năng lực trả nợ trong quá trình sử dụng vốn vay. + Rủi ro do sự lựa chọn đối nghịch: là rủi ro do thông tin không cân xứng tạo 9 ra trƣớc khi cuộc giao dịch diễn ra. Bên cho vay tin tƣởng vào năng lực của ngƣời vay mà cho vay trong khi ngƣời đi vay với mục đích để vay đƣợc vốn đã cung cấp thông tin không trung thực cho bên cho vay. - Căn cứ phạm vi của rủi ro tín dụng, có thể phân rủi ro tín dụng thành rủi ro cá biệt và rủi ro hệ thống.
Trong thực tiễn hoạt động tín dụng, cách phân loại rủi ro tín dụng theo phạm vi rủi ro sẽ giúp cho ngân hàng đƣa ra các giải pháp quản trị rủi ro phù hợp và hữu hiệu nhất. + Rủi ro tín dụng cá biệt: là rủi ro tín dụng xảy ra đối với một khoản vay của một khách hàng cụ thể, thuộc một nhóm ngành cụ thể.